Tổng quan nghiên cứu

Biển Đông giữ vị trí huyết mạch hàng hải quốc tế kết nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nơi tập trung 5 trong số 10 tuyến vận tải biển nhộn nhịp nhất toàn cầu và hơn 50% tổng dung lượng hàng hóa thương mại thế giới trung chuyển hằng năm. Nằm ở trung tâm khu vực biển chiến lược này, hai quần đảo Hoàng Sa với diện tích vùng nước khoảng 15.000 km² và Trường Sa với diện tích không gian biển bao phủ trên 160.000 km² giữ vai trò then chốt về an ninh quốc phòng, kinh tế biển và vị thế địa chính trị của Việt Nam.

Luận văn Thạc sĩ Luật học chuyên ngành Luật Quốc tế của tác giả Nguyễn Thị Diễm Anh tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2009), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Bá Diến, tập trung giải quyết vấn đề cấp bách: Xác lập căn cứ pháp lý và chứng cứ lịch sử vững chắc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời chỉ rõ tính chất vi phạm luật pháp quốc tế trong các yêu sách và hành động của các bên tranh chấp.

Mục tiêu cụ thể của công trình bao gồm: Hệ thống hóa lý luận thụ đắc lãnh thổ; phục dựng quá trình xác lập, thực thi chủ quyền liên tục, hòa bình của các nhà nước Việt Nam từ thế kỷ XVII; phân tích, bác bỏ tính phi pháp của các hành động sử dụng vũ lực chiếm đóng trái phép năm 1974 và 1988; đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm cả cơ chế tài phán quốc tế như Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) và Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS). Công trình đóng góp nền tảng học thuật quan trọng, phục vụ trực tiếp cho mục tiêu bảo vệ toàn vẹn 100% chủ quyền lãnh thổ biển đảo và quyền tài phán quốc gia theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng toàn diện lý thuyết thụ đắc lãnh thổ (Acquisition of territory) trong tập quán và luật pháp quốc tế. Cụ thể, công trình phân tích sâu sắc 5 phương thức thụ đắc lãnh thổ truyền thống và hiện đại: Chiếm hữu (Occupation/nguyên tắc chiếm cứ hữu hiệu), Thời hiệu (Prescription), Bồi đắp tự nhiên (Accretion), Chuyển nhượng (Cession) và Xâm chiếm bằng vũ lực (Conquest). Trong đó, nguyên tắc chiếm hữu thực sự trên vùng đất vô chủ (terra nullius) hoặc vùng đất bị từ bỏ (terra derelicta) được đặt làm trụ cột lý thuyết trung tâm.

Khung lý thuyết của công trình truy nguyên sự phát triển của nguyên tắc chiếm hữu qua 4 giai đoạn lịch sử: Từ thời kỳ chỉ dụ của Giáo hoàng thế kỷ XIV–XV, thuyết "Quyền phát hiện" thế kỷ XVI, thuyết "Chiếm hữu tượng trưng" thế kỷ XVII–XVIII, đến thuyết "Chiếm hữu thực sự" được pháp điển hóa tại Điều 34 và 35 của Định ước Berlin năm 1885 cũng như Điều 10 Công ước Saint-Germain năm 1919.

Song song đó, luận văn áp dụng khung pháp lý quốc tế đương đại gồm Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945 (đặc biệt là nguyên tắc cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực tại Điều 2 khoản 4) và UNCLOS 1982 (với Điều 121 quy định quy chế pháp lý của đảo, Điều 46 và 47 về quốc gia quần đảo). Hệ thống 4 khái niệm pháp lý then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Lãnh thổ quốc gia, chủ quyền quốc gia tối cao, quy chế vùng nước nội thủy - lãnh hải 12 hải lý và thềm lục địa 200 hải lý.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ cỡ mẫu khảo sát quy mô lớn gồm hơn 120 tài liệu lịch sử, châu bản, văn bản quy phạm pháp luật của các triều đại phong kiến Việt Nam (tiêu biểu như Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn năm 1776, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú năm 1821, Đại Nam thực lục, Hoàng Việt địa dư chí) cùng hơn 30 văn bản điều ước quốc tế, tuyên bố ngoại giao của các cường quốc và hồ sơ tư liệu từ thế kỷ XVII đến năm 2009.

Phương pháp chọn mẫu tư liệu được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng lịch sử qua 4 thời kỳ: Thời kỳ phong kiến độc lập, thời kỳ Pháp thuộc (1884–1954), thời kỳ 1954–1976 và thời kỳ từ năm 1976 đến nay. Phương pháp này bảo đảm chọn lọc những bằng chứng xác thực nhất về việc thực thi quyền lực nhà nước liên tục.

Về phương pháp phân tích, luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học đối chiếu giữa lập luận của Việt Nam với các bên yêu sách (Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan), và phương pháp tổng hợp logic lịch sử. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này là yêu cầu tất yếu nhằm đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chứng minh khắt khe của cơ quan tài phán quốc tế về tính liên tục, hòa bình và thẩm quyền nhà nước chính danh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn chứng minh vững chắc rằng Việt Nam là nhà nước đầu tiên và duy nhất trong lịch sử đã xác lập, thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách hòa bình, thực sự và liên tục từ khi hai quần đảo này còn là lãnh thổ vô chủ (terra nullius) ít nhất từ thế kỷ XVII. Các tổ chức như Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải dưới thời Chúa Nguyễn hoạt động đều đặn với quy mô 70 suất đinh mỗi chuyến hải trình kéo dài 6 tháng hằng năm để đo đạc luồng lạch, thu lượm hải vật, cắm mốc và dựng bia chủ quyền.

Thứ hai, nghiên cứu chỉ rõ tính chất ngụy biện và thiếu cơ sở pháp lý của các bên tranh chấp, đặc biệt là phía Trung Quốc. Các tài liệu lịch sử cổ của Trung Quốc (từ thời Tống, Nguyên, Minh đến Thanh) chỉ phản ánh việc biết đến sự tồn tại của các đảo hoặc hoạt động tuần tiễu ven bờ đảo Hải Nam (giới hạn phía Nam dưới vĩ độ 18°13' Bắc), hoàn toàn không chứng minh được sự chiếm hữu nhà nước. Việc Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa ngày 19/01/1974 khiến hơn 50 binh sĩ Việt Nam hy sinh và dùng vũ lực đánh chiếm các bãi đá ngầm tại Trường Sa ngày 14/03/1988 khiến 70 chiến sĩ hy sinh cùng 3 tàu vận tải bị bắn cháy, chìm là hành vi xâm lược trắng trợn, vi phạm nghiêm trọng Điều 2 khoản 4 Hiến chương Liên Hợp Quốc, không thể tạo ra danh nghĩa thụ đắc chủ quyền hợp pháp.

Thứ ba, luận văn phân tích tính bất hợp pháp của yêu sách "đường lưỡi bò" bao chiếm gần 80% diện tích Biển Đông do Trung Quốc công bố năm 2009 cùng các tuyên bố chủ quyền của Philippines (yêu sách nhóm đảo Kalayaan từ những năm 1950), Malaysia (yêu sách một phần Trường Sa năm 1951) và Brunei. Các yêu sách này đều vi phạm trực tiếp các quy định của UNCLOS 1982 và xâm phạm hơn 90% vùng đặc quyền kinh tế cũng như thềm lục địa hợp pháp của Việt Nam.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu khẳng định sự tương thích tuyệt đối giữa hồ sơ lịch sử của Việt Nam với các phán quyết quốc tế tiêu biểu như vụ Đảo Palmas (năm 1928), vụ Đảo Clipperton (năm 1931) và vụ Đền Preah Vihear (năm 1962). Các án lệ này đều khẳng định danh nghĩa phát hiện chỉ có giá trị ban đầu sơ khai, không thể đứng vững nếu thiếu sự quản lý hành chính thực tế và liên tục của một tổ chức công quyền. Lập luận của các bên tranh chấp bộc lộ rõ sự chắp vá, cắt xén văn bản cổ và áp dụng sai lệch quy chuẩn quốc tế.

Để nâng cao tính trực quan học thuật, các dữ liệu lịch sử và pháp lý trong luận văn có thể được tổ chức qua bảng ma trận so sánh pháp lý giữa các bên dựa trên 4 tiêu chí chuẩn mực: Thời điểm xác lập chiếm hữu đầu tiên, tính liên tục của hành vi quản lý nhà nước, tính hợp pháp của phương thức chiếm lĩnh và mức độ tương thích với UNCLOS 1982. Đồng thời, biểu đồ dòng thời gian (timeline chart) kéo dài từ thế kỷ XVII đến năm 2009 sẽ làm nổi bật tính liên tục 100% trong việc thực thi chủ quyền của Việt Nam qua các chế độ chính trị khác nhau, đối lập hoàn toàn với các mốc thời gian xâm lấn quân sự phi pháp của các quốc gia khác.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Khởi kiện và kích hoạt các định chế tài phán quốc tế: Bộ Ngoại giao chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp và các chuyên gia luật quốc tế khẩn trương hoàn thiện hồ sơ chứng cứ, chủ động đưa tranh chấp ra giải quyết tại Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) hoặc Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982, phấn đấu đạt được phán quyết quốc tế vô hiệu hóa yêu sách đường lưỡi bò phi pháp trong lộ trình giai đoạn 2015–2020.
  2. Đẩy mạnh ngoại giao đa phương và thể chế hóa bộ quy tắc ứng xử: Ban Đối ngoại Trung ương và các cơ quan ngoại giao tích cực đàm phán cùng 10 quốc gia thành viên ASEAN và các đối tác liên quan nhằm nâng cấp Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC năm 2002) thành Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có tính ràng buộc pháp lý 100%, bảo đảm duy trì trật tự hòa bình và tự do hàng hải.
  3. Phát triển kinh tế biển gắn với củng cố hiện diện dân sự: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa và thành phố Đà Nẵng triển khai chính sách đóng mới, hỗ trợ kỹ thuật cho 1.000 tàu cá công suất lớn trên 400 CV đánh bắt xa bờ; nâng cấp hạ tầng các âu tàu, trạm y tế và phủ sóng 100% dịch vụ hậu cần nghề cá tại các đảo tiền tiêu trong kế hoạch trung hạn 5 năm.
  4. Hiện đại hóa lực lượng thực thi pháp luật và phòng thủ biển đảo: Bộ Quốc phòng tăng cường trang thiết bị kỹ thuật hiện đại cho Cảnh sát biển và Kiểm ngư Việt Nam, bảo đảm năng lực tuần tra, kiểm soát 365 ngày/năm trên toàn bộ 100% vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý, kiên quyết bảo vệ ngư dân và ngăn chặn mọi hành vi vi phạm chủ quyền.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Nhà hoạch định chính sách và cán bộ ngoại giao: Tiếp cận hệ thống tư liệu lịch sử chuẩn xác và hơn 120 nguồn trích dẫn pháp lý phục vụ trực tiếp cho công tác đàm phán, hoạch định chiến lược đối ngoại và giải quyết tranh chấp biên giới lãnh thổ.
  2. Luật sư, chuyên gia pháp lý và nhà nghiên cứu Luật Quốc tế: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu để phân tích án lệ quốc tế, hoàn thiện phương pháp lập luận và chuẩn bị cấu trúc hồ sơ pháp lý theo các điều khoản của UNCLOS 1982.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Luật, Lịch sử, Quan hệ Quốc tế: Khai thác làm học liệu nghiên cứu, bài giảng chuyên đề về chủ quyền biển đảo, luật biển quốc tế và phương pháp luận nghiên cứu khoa học pháp lý.
  4. Cán bộ tuyên giáo, nhà báo và phóng viên truyền thông: Nắm bắt dữ liệu chuẩn xác về các mốc lịch sử như năm 1974, năm 1988 để xây dựng trên 50 chuyên đề thông tin đối ngoại, tuyên truyền đúng định hướng và nâng cao nhận thức cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên tắc chiếm cứ hữu hiệu trong Luật Quốc tế đòi hỏi những điều kiện pháp lý nào? Chiếm cứ hữu hiệu đòi hỏi hành động phải do Nhà nước tiến hành một cách thực sự, hòa bình và liên tục trên vùng lãnh thổ vô chủ (terra nullius) hoặc bị từ bỏ (terra derelicta). Theo Định ước Berlin năm 1885, quốc gia chiếm hữu phải thiết lập quyền lực thực tế đủ để bảo vệ trật tự và không được sử dụng vũ lực xâm chiếm.

Chứng cứ lịch sử nào chứng minh Việt Nam xác lập chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa sớm nhất? Các thư tịch cổ chính sử như "Phủ biên tạp lục" (năm 1776) của Lê Quý Đôn và "Đại Nam thực lục" ghi nhận từ đầu thế kỷ XVII, Chúa Nguyễn đã thành lập Đội Hoàng Sa gồm 70 suất đinh thực hiện nhiệm vụ đo đạc hải trình, khai thác tài nguyên và thực thi quyền lực nhà nước hàng năm.

Việc Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988 có tạo lập chủ quyền không? Hoàn toàn không. Hành vi dùng vũ lực chiếm đóng năm 1974 khiến hơn 50 binh sĩ Việt Nam hy sinh và năm 1988 khiến 70 chiến sĩ hy sinh đã vi phạm nghiêm trọng Điều 2 khoản 4 Hiến chương Liên Hợp Quốc. Theo luật quốc tế hiện đại, việc sử dụng vũ lực xâm chiếm lãnh thổ là phi pháp và hoàn toàn vô giá trị.

Yêu sách "đường 9 đoạn" của Trung Quốc vi phạm những quy định nào của UNCLOS 1982? Yêu sách đường 9 đoạn bao chiếm 80% Biển Đông hoàn toàn không có căn cứ pháp lý trong UNCLOS 1982, vi phạm trực tiếp quy chế vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa theo Điều 56, 57, đồng thời xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam.

Việt Nam có thể áp dụng cơ chế tài phán quốc tế nào để giải quyết tranh chấp biển đảo? Việt Nam có quyền sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc theo Phần XV của UNCLOS 1982 để khởi kiện ra Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) hoặc Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII UNCLOS 1982 nhằm bảo vệ các quyền lợi biển đảo hợp pháp, tương tự như tiền lệ quốc tế năm 2016.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện 5 phương thức thụ đắc lãnh thổ, khẳng định giá trị pháp lý tối cao của nguyên tắc chiếm cứ hữu hiệu trong Luật Quốc tế hiện đại.
  • Cung cấp chuỗi chứng cứ lịch sử đanh thép, khẳng định tính liên tục và hòa bình 100% trong quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XVII.
  • Bác bỏ dứt điểm tính hợp pháp của yêu sách đường 9 đoạn và các hành vi dùng vũ lực chiếm đóng trái phép năm 1974, 1988 của phía Trung Quốc.
  • Đề xuất khung 4 giải pháp chiến lược đồng bộ kết hợp đấu tranh pháp lý quốc tế tại ITLOS/ICJ, đàm phán ngoại giao COC với phát triển kinh tế biển và củng cố quốc phòng đến năm 2030.
  • Đóng góp hơn 120 nguồn tư liệu học thuật giá trị, tạo dựng cơ sở lý luận vững chắc cho công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia.

Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Diễm Anh là công trình nghiên cứu công phu, có giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏ sự thật lịch sử và công lý quốc tế mà còn cung cấp luận cứ sắc bén phục vụ công cuộc bảo vệ chủ quyền. Mỗi cá nhân, nhà nghiên cứu và cơ quan hữu quan cần tiếp tục lan tỏa sâu rộng các giá trị pháp lý này, cùng chung tay bảo vệ vững chắc 100% chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.