Luận văn thạc sĩ về xác định chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề này.

Trường đại học

Đại học quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

154
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Tình hình nghiên cứu

4. Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài

5. Phạm vi nghiên cứu

6. Phƣơng pháp nghiên cứu

1. CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH CHỦ QUYỀN QUỐC GIA ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƢỜNG SA

1.1. Điều kiện tự nhiên của hai quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa

1.1.1. Điều kiện tự nhiên của Quần đảo Hoàng Sa

1.1.2. Điều kiện tự nhiên của quần đảo Trƣờng Sa

1.2. Vai trò của quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa

1.2.1. Vai trò về kinh tế

1.2.1.1. Tài nguyên về mỏ phốt phát
1.2.1.2. Tài nguyên về dầu mỏ
1.2.1.3. Tài nguyên về thủy hải sản

1.2.2. Điều kiện thuận lợi trong giao thông quốc tế

1.2.3. Vai trò đối với an ninh quốc phòng

1.3. Một số khái niệm cơ bản

1.3.1. Khái niệm lãnh thổ quốc gia

1.3.2. Khái niệm chủ quyền quốc gia

1.3.3. Khái niệm Đảo

1.4. Vấn đề thụ đắc lãnh thổ trong luật pháp và thực tiễn quốc tế

1.4.1. Khái niệm về thụ đắc lãnh thổ

1.4.2. Các phƣơng thức (Modes) thụ đắc lãnh thổ

1.4.2.1. Thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu (Occupation)
1.4.2.2. Thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu (Presscription acquisitive)
1.4.2.3. Thụ đắc lãnh thổ do sự tác động của tự nhiên (Accretion)
1.4.2.4. Thụ đắc lãnh thổ bằng chuyển nhượng (Cession)
1.4.2.5. Thụ đắc lãnh thổ bằng xâm chiếm (Conquête)

1.4.3. Phƣơng thức thụ đắc bằng chiếm hữu (hay còn gọi là nguyên tắc chiếm cứ hữu hiệu)

1.4.3.1. Khái niệm chung
1.4.3.2. Các đặc trưng của phương thức chiếm hữu

2. CHƢƠNG 2: NHỮNG HÀNH ĐỘNG VÀ LẬP LUẬN CỦA CÁC BÊN TRANH CHẤP VỀ VIỆC XÁC LẬP CHỦ QUYỀN ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƢỜNG SA

2.1. Những hành động và lập luận của các bên tranh chấp

2.1.1. Những hành động và lập luận của Trung Quốc trong việc thể hiện yêu sách chủ quyền đối với quần và Hoàng Sa và Trƣờng Sa

2.1.1.1. Những hành động của Trung Quốc
2.1.1.2. Những lập luận của Trung Quốc

2.1.2. Những hành động và lập luận của Đài Loan trong việc thể hiện yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa

2.1.2.1. Những hành động của Đài Loan
2.1.2.2. Những lập luận của Đài Loan

2.1.3. Những hành động và lập luận của Malaixia trong việc thể hiện yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa

2.1.3.1. Những hành động của Malaixia
2.1.3.2. Những lập luận của Malaixia

2.1.4. Những hành động và lập luận của Philipnes trong việc thể hiện yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa

2.1.4.1. Những hành động của Philipines
2.1.4.2. Lập luận của Philipines

2.1.5. Những hành động và lập luận của Brunei trong việc thể hiện yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa

2.1.5.1. Những hành động của Brunei
2.1.5.2. Những lập luận của Brunei

2.2. Tính chất trái pháp luật quốc tế của những hành động và lập luận các bên tranh chấp

2.2.1. Tính chất trái pháp luật quốc tế của những hành động và lập luận của Trung Quốc

2.2.1.1. Tính chất trái pháp luật quốc tế của các hành động của Trung Quốc
2.2.1.2. Tính chất trái pháp luật quốc tế của những lập luận của Trung Quốc

2.2.2. Tính chất trái pháp luật quốc tế của các hành động và lập luận của Đài Loan

2.2.2.1. Tính chất trái pháp luật quốc tế của các hành động của Đài Loan
2.2.2.2. Tính chất trái pháp luật quốc tế của các lập luận của Đài Loan

2.2.3. Tính chất trái pháp luật quốc tế của những hành động và lập luận của Malaixia

2.2.3.1. Tính chất trái pháp luật quốc tế của những hành động của Malaixia
2.2.3.2. Tính chất trái pháp luật quốc tế của các lập luận của Malaixia

2.2.4. Tính chất trái pháp luật quốc tế của những hành động và lập luận của Philipines

2.2.4.1. Tính chất trái pháp luật quốc tế của những hành động của Philipines
2.2.4.2. Tính chất trái pháp luật quốc tế của những lập luận của Philipines

2.2.5. Tính chất trái pháp luật quốc tế của những hành động và lập luận của Brunei

2.2.5.1. Tính chất trái pháp luật quốc tế của những hành động của Brunei
2.2.5.2. Tính chất trái pháp luật quốc tế của những lập luận của Brunei

2.3. Một số quan điểm khác nhau về việc xác định chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa

2.3.1. Một số quan điểm một số học giả, luật sƣ trong nƣớc

2.3.1.1. Quan điểm của Tiến sỹ sử học Nguyễn Nhã
2.3.1.2. Quan điểm của tiến sỹ luật Từ Đăng Minh Thu
2.3.1.3. Quan điểm của tác giả Nguyễn Quốc Thắng
2.3.1.4. Quan điểm của tác giả Lê Minh Nghĩa - Cố Trưởng Ban Biên giới của Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

2.3.2. Một số quan điểm của các học giả nƣớc ngoài

2.3.2.1. Quan điểm của ông Charles Rousseau - giáo sư khoa luật Pari, ủy viên Viện luật quốc tế
2.3.2.2. Quan điểm của ông Giăng Pheriê, trợ giáo trường Đại học luật, kinh tế và khoa học xã hội ở Pari
2.3.2.3. Quan điểm của Giáo sư Amos Jordan
2.3.2.4. Quan điểm của Giáo sư E
2.3.2.5. Quan điểm của Bà Monique Chemiller - Gendreau, Chủ tịch Hội luật gia Châu Âu

3. CHƢƠNG 3: CHỦ QUYỀN QUỐC GIA CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA - TRƢỜNG SA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP

3.1. Những chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Quần đảo Trƣờng Sa và Hoàng Sa

3.1.1. Những chứng cứ lịch sử trƣớc thời Pháp thuộc (Luận cứ thời phong kiến của Nhà nƣớc Việt Nam)

3.1.1.1. Nhà nước phong kiến Việt Nam phát hiện quần đảo Hoàng sa và Trường Sa
3.1.1.2. Nhà nước phong kiến Việt Nam tổ chức điều tra và khảo sát địa hình của hai quần đảo
3.1.1.3. Nhà nước phong kiến Việt Nam tổ chức khai thác, xây dựng di tích, lưu dấu chủ quyền trên hai quần đảo

3.1.2. Những chứng cứ lịch sử trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ

3.1.2.1. Quản lý về mặt hành chính
3.1.2.2. Hoạt động nghiên cứu khoa học và khai thác hải vật
3.1.2.3. Đưa quân ra đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, chính thức công bố sự chiếm đóng này
3.1.2.4. Các hoạt động đối ngoại

3.1.3. Những chứng cứ lịch sử thời kỳ từ năm 1954 đến 1976

3.1.3.1. Quản lý về mặt hành chính
3.1.3.2. Các hoạt động khoa học và kinh tế
3.1.3.3. Các hoạt động quân sự và đối ngoại

3.1.4. Giai đoạn từ năm 1976 đến nay

3.1.4.1. Quản lý hành chính
3.1.4.2. Các hoạt động khoa học và kinh tế
3.1.4.3. Các hoạt động quân sự và đối ngoại

3.2. Những luận cứ pháp lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa

3.2.1. Luật quốc gia

3.2.1.1. Hệ thống các văn bản luật biển thời kỳ phong kiến
3.2.1.2. Các văn bản về luật biển trong thời kỳ pháp thuộc
3.2.1.3. các văn bản về luật biển trong thời kỳ 1954 đến 1976
3.2.1.4. Các văn bản về luật biển trong thời kỳ từ 1976 đến nay

3.2.2. Luật quốc tế

3.2.2.1. Nguyên tắc chiếm cứ hữu hiệu (hay còn gọi là nguyên tắc chiếm hữu thực sự)
3.2.2.2. Hiến chương Liên Hợp Quốc
3.2.2.3. Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế
3.2.2.4. Các Điều ước quốc tế

3.3. Một số giải pháp giúp Việt Nam giành lại chủ quyền đối với hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa

3.3.1. Sử dụng thiết chế Tòa án công lý của Liên Hợp Quốc

3.3.2. Sử dụng thiết chế của Tòa án Luật Biển quốc tế

3.3.3. Về hoạt động đối nội

3.3.3.1. Về chính trị
3.3.3.2. Về kinh tế

3.3.4. Về hoạt động đối ngoại

PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về xác định chủ quyền quốc gia đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở vị trí chiến lược quan trọng trong Biển Đông, không chỉ về mặt kinh tế mà còn về an ninh quốc phòng. Việc xác định chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo này là một vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều yếu tố lịch sử, pháp lý và chính trị. Việt Nam đã có những chứng cứ lịch sử và pháp lý rõ ràng để khẳng định chủ quyền của mình. Tuy nhiên, sự tranh chấp với các quốc gia khác, đặc biệt là Trung Quốc, đã tạo ra nhiều thách thức trong việc bảo vệ chủ quyền.

1.1. Lịch sử chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa

Việt Nam đã có những hoạt động xác lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa từ thế kỷ XVII. Các tài liệu lịch sử cho thấy, nhà nước phong kiến Việt Nam đã thực hiện nhiều hoạt động khảo sát, khai thác và quản lý quần đảo này. Những chứng cứ này là cơ sở quan trọng để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

1.2. Tình hình hiện tại và các bên tranh chấp

Hiện nay, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang là đối tượng tranh chấp giữa Việt Nam và một số quốc gia khác như Trung Quốc, Đài Loan, và Philippines. Các hành động xâm chiếm và yêu sách chủ quyền của các quốc gia này đã gây ra nhiều căng thẳng trong khu vực, đe dọa đến hòa bình và ổn định.

II. Những thách thức trong việc xác định chủ quyền quốc gia đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Việc xác định chủ quyền quốc gia đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa gặp phải nhiều thách thức lớn. Các quốc gia có yêu sách chủ quyền khác nhau đã đưa ra nhiều lập luận và hành động nhằm khẳng định quyền lợi của mình. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế mà còn tác động đến an ninh khu vực.

2.1. Hành động của Trung Quốc và các quốc gia khác

Trung Quốc đã có nhiều hành động xâm chiếm và xây dựng cơ sở hạ tầng trên các đảo và bãi đá thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những hành động này không chỉ vi phạm chủ quyền của Việt Nam mà còn đi ngược lại các nguyên tắc của luật pháp quốc tế.

2.2. Tác động đến quan hệ quốc tế

Sự tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã làm gia tăng căng thẳng trong quan hệ giữa Việt Nam và các quốc gia khác trong khu vực. Điều này có thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng cho hòa bình và ổn định trong khu vực Đông Nam Á.

III. Phương pháp xác định chủ quyền quốc gia đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Để xác định chủ quyền quốc gia đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử và pháp lý. Việc thu thập và phân tích các chứng cứ lịch sử, tài liệu pháp lý là rất quan trọng trong việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam.

3.1. Phân tích chứng cứ lịch sử

Việc phân tích các tài liệu lịch sử, bản đồ cổ và các văn bản pháp lý là cần thiết để chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này. Những tài liệu này không chỉ có giá trị pháp lý mà còn thể hiện sự liên tục trong việc thực thi chủ quyền.

3.2. Áp dụng luật quốc tế

Luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, cung cấp cơ sở pháp lý cho việc xác định chủ quyền quốc gia. Việt Nam cần dựa vào các quy định này để bảo vệ quyền lợi của mình trong các tranh chấp quốc tế.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về chủ quyền quốc gia

Nghiên cứu về chủ quyền quốc gia đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc bảo vệ chủ quyền. Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chiến lược chính trị và ngoại giao hiệu quả.

4.1. Chiến lược bảo vệ chủ quyền

Việt Nam cần xây dựng một chiến lược bảo vệ chủ quyền toàn diện, bao gồm cả các biện pháp ngoại giao và pháp lý. Việc hợp tác với các quốc gia khác trong khu vực cũng là một yếu tố quan trọng để tăng cường sức mạnh trong việc bảo vệ chủ quyền.

4.2. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng

Các kết quả nghiên cứu về chủ quyền quốc gia có thể được sử dụng để nâng cao nhận thức của cộng đồng và tạo ra sự đồng thuận trong xã hội về vấn đề này. Điều này sẽ góp phần củng cố lòng yêu nước và trách nhiệm của mỗi công dân trong việc bảo vệ chủ quyền.

V. Kết luận và tương lai của chủ quyền quốc gia đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Việc xác định chủ quyền quốc gia đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một vấn đề phức tạp và nhạy cảm. Tuy nhiên, với những chứng cứ lịch sử và pháp lý vững chắc, Việt Nam có thể khẳng định quyền lợi của mình. Tương lai của chủ quyền quốc gia phụ thuộc vào sự quyết tâm và nỗ lực của toàn xã hội trong việc bảo vệ lãnh thổ.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo vệ chủ quyền

Bảo vệ chủ quyền quốc gia không chỉ là trách nhiệm của chính phủ mà còn là của mỗi công dân. Sự đồng lòng và quyết tâm của toàn xã hội sẽ tạo ra sức mạnh lớn trong việc bảo vệ lãnh thổ.

5.2. Hướng đi trong tương lai

Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu và cập nhật thông tin về tình hình Biển Đông, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế để bảo vệ chủ quyền. Việc xây dựng một chiến lược dài hạn sẽ giúp Việt Nam giữ vững chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls xác định chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo hoàng sa và trường sa

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chƣơng. Chƣơng 1: Khái quát những vấn đề lý luận về việc xác định chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa. Chƣơng 2: Những hành động và lập luận của các bên tranh chấp về việc xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa. Chƣơng 3: Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa - Trƣờng Sa và một số giải pháp.

6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH CHỦ QUYỀN QUỐC GIA ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƢỜNG SA 1. Điều kiện tự nhiên của hai quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa 1. Điều kiện tự nhiên của Quần đảo Hoàng Sa Quần đảo Hoàng Sa có nghĩa là “cát vàng” (tiếng Anh: Islands; Trung Quốc gọi là Hsisha Chundao hay Xisha Quadao, đảo Tây Sa). Quần đảo Hoàng Sa nằm trong khoảng 160 đến 170 Bắc, kinh độ 111 và 1130 Đông, án ngữ ngang cửa vịnh Bắc Bộ, cách đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) Quảng Ngãi hơn 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 140 hải lý.

Diện tích phần đất nổi của đảo khoảng 10km2 và đảo Phú Quốc rộng nhất khoảng 1,5km2. Quần đảo này gồm trên 30 hòn đảo nhỏ, đá cồn, san hô, bãi cát nằm rải trên một vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 100 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý, chiếm một diên tích khoảng 15. Quần đảo Hoàng Sa đƣợc hợp thành từ hai nhóm chính: nhóm An Vĩnh (Amphitrite) và nhóm Nguyệt Thiềm (Coroissant), khoảng cách giữa chúng khoảng 70 km. Thêm vào đó còn có một số đảo và đá nằm tách riêng.

Nhóm Nguyệt Thiềm (còn gọi là nhóm Lƣỡi Liềm) ở phía Tây, gồm 15 hòn đảo nhỏ (có diện tích từ 0,5km2 trở xuống và cao hơn mặt nƣớc biển từ 4 đến 6m) trong đó có năm đảo chính: Hữu Nhật (Robert 0 0,32km), Quang Hòa (Ducan - 0,48km), đá Thu Lu (Palm - 0,09 km), Duy Mộng (Drummond - 0,41 km trên có 5 ngôi mộ), Hoàng Sa (Pattle - 0,3km) trên đó có dấu vết của một đầu tàu và dấu vết của một con kênh đào. Đảo Quang Anh (Money - 0,5km) nằm riêng biệt ở một nơi (cách khoảng 12 km), và xa hơn về phía Nam là đảo Tri Tôn. Nhóm An Vĩnh ở phía Đông, bao gồm: đảo Phú Lâm (Wood), đảo Đá (Rocheuse), đảo Nam, đảo Trung (Lilieu), đảo Bắc (Nord), đảo Cây (Tree), đảo Linh Côn. Đảo Phú Lâm lớn nhất, dài không quá 4km và rộng khoảng 2km đến 3km.

7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Toàn bộ quần đảo, ngoài hai nhóm đảo nói trên, còn bao gồm 30 đảo nhỏ, bãi cạn hoặc đá ngầm chiếm khoảng 15 km bề mặt đại dƣơng, điều này nói lên tính chất chực kỳ nguy hiểm cho giao thông đƣờng biển trong vùng biển này. Quần đảo Hoàng Sa nằm ngang bờ biển các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và một phần Quảng Ngãi. Về khoảng cách đất liền, quần đảo Hoàng Sa nằm gần Việt Nam nhất. - Khoảng cách từ đảo Tri Tôn (15047‟N, 1110 12‟E) tới Lý Sơn hay Cù Lao Rế (150 22‟N, 109 độ 07‟E) là 20 03 phút trên thƣớc đo khoảng cách vĩ độ, tức chỉ có 123 hải lý.

- Nếu lấy tọa độ (Lý Sơn 150 23.0‟E) từ trong bản tuyên cáo đƣờng cơ sở nội hải của chính quyền nƣớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì khoảng cách đến bờ Cù Lao Ré thu ngắn lại dƣới 121 hải lý. - Từ đảo Tri Tôn này đến Mũi Ba Làng An (Cap Batangan 15014‟N, 1080 56‟E) tức đất liền lục địa Việt Nam, khoảng cách đo đƣợc 135 hải lý. - Trong khi đó, khoảng cách đảo gần tới bờ đảo Hải Nam xa tới 140 hải lý (đảo Hoàng Sa - 16032N, 111036E và Ling - sui Pt hay Leong - soi Pt - 18022N, 110003E). - Khoảng cách từ quần đảo Hoàng Sa tới đất liền lục địa Trung Hoa còn xa hơn rất nhiều, tối thiểu là 235 hải lý.

Vùng biển Hoàng Sa trong Biển Đông nằm trong vùng “xích đạo từ”. Biển Đông nằm trong vùng mà độ sai lệch từ không thay đổi hoặc thay đổi rất ít. Ở đây hƣớng kim chỉ nam của bàn là từ gần đúng với hƣớng Bắc - Nam địa dƣ, rất thuận lợi cho việc đi biển. Quần đảo Hoàng Sa không có mùa Đông lạnh giá, khí hậu ẩm, mƣa nhiều, thƣờng xuyên có sƣơng mùa.

Nhiệt độ trung bình thấp nhất trong tháng một là 23 độ và cao nhất trong tháng tám là 28 độ. Thời tiết có thể chia làm hai mùa. Mùa khô từ tháng một đến tháng sáu, mùa mƣa từ tháng bảy đến tháng mƣời hai. Lƣợng mƣa trung bình hàng năm khoảng 1170mm.

Từ tháng sáu đến tháng tám bão thƣờng xuyên đi qua quần đảo này. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thực vật trên quần đảo Hoàng Sa rất phong phú và đa dạng, có đảo có cây cối um tùm nhƣng có đảo chỉ có các bụi cây nhỏ và cỏ dại. Phần lớn thực vật trên quần đảo Hoàng Sa có nguồn gốc ở miền duyên hải Việt Nam, Nhiều triều vua trƣớc đây của Việt Nam đã đem ra trồng trên đảo để tàu bè qua lại dễ nhận biết, tránh khỏi tai nạn. Loài thực vật có giá trị kinh tế lớn nhất là rau câu.

Động vật ở quần đảo Hoàng Sa cũng rất phong phú, ở đây có nhiều chim, rùa và các hải sản quý hiếm khác nhƣ tôm hùm, hải sâm, đồi mồi, ốc tai voi. Các công trình khoa học thực hiện trong thời kỳ thuộc địa của Pháp do tàu hơi nƣớc mang tên De lanessan tiến hành nghiên cứu và kết quả của chúng đƣợc ghi nhận trong các bài viết đƣợc công bố của Tiến sỹ A. Krempf, giám đốc viện Hải Dƣơng học cho thấy đáy biển nơi mọc lên các đá ngầm cà các đảo nhỏ của quần đảo Hoàng Sa có một độ sau từ 40 đến 100m và đƣợc bao phủ bởi một lớp vỏ san hô. Điều kiện tự nhiên của quần đảo Trƣờng Sa Quần đảo Trƣờng Sa (tiếng Anh: Spratly Islands; tiếng Trung: Nam Sa quần đảo; tiếng Philipines: Kalayaan; tiếng Malaixia và Indonenesia: Kepulauan Spratly).

Quần đảo Trƣờng Sa ở vào vĩ tuyến 120 Bắc và kinh tuyến 1110 Đông, cách bờ biển Việt Nam khoảng 400km, cách Philipines khoảng 300km và cách Trung Quốc khoảng 1. Tại tọa độ: 6050‟ - 120 vĩ độ Bắc; 111030‟ - 117020‟ kinh độ Đông, cách Cam Ranh (thuộc tỉnh Khánh Hòa) khoảng 248 hải lý, cách đảo Phú Quý (thuộc tỉnh Bình Thuận) khoảng 203 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 595 hải lý. Toàn thể quần đảo Trƣờng Sa có diện tích khoảng 160.000 km2 (diện tích mặt nƣớc gấp hơn 10 lần diện tích khu vực quần đảo Hoàng Sa) trong đó diện tích đất liền nhỏ hơn 5 km2, đƣờng bờ biển dài 926 km gồm trên 100 đảo lớn nhỏ, bãi ngầm, bãi đá san hô nằm lập lờ hoặc nhô lên mặt biển khi thủy triều xuống thấp, trong đó có khoảng 26 đảo hoăc đá chính. Quần đảo Trƣờng Sa đƣợc chia thành 8 cụm: cụm Song Tử; cụm Loại Tại, cụm Thị Tứ, cụm Nam Yết; cụm Sinh Tồn; cụm Trƣờng Sa; cụm Thám Hiểm và 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cụm Bình Nguyên.

Trong quần đảo Trƣờng Sa, đảo cao nhất là Song Tử Tây, ở phía Bắc quần đảo, cao khoảng 4 đến 6 mét khi thủy triều thấp nhất. Đảo nằm xa nhất về cực Nam là đảo Sác Lốt. Đảo lớn nhất là đảo Ba Đình (khoảng 0,6km) sau đó đến đảo Nam Yết (0,5km), còn lại là các đảo nhỏ hơn. Khoảng cách giữa các đảo cũng khác nhau, gần nhất từ Song Tử Đông đến Sông Tử Tây khoảng 1,5 hải lý, xa nhất từ Song Tử Tây đến đảo An Bang khoảng 280 hải lý.

Xét về đơn vị hành chính (là những tuyên bố chủ quyền của các nƣớc về một phần hoặc toàn bộ nhƣng chƣa có cột mốc biên giới), quần đảo Trƣờng Sa nằm trong các đơn vị hành chính của các nƣớc nƣớc nhƣ sau: Việt Nam (thuộc huyện Trƣờng Sa, tỉnh Khánh Hòa); Philipines (thuộc tỉnh Palawan); Đài Loan (thuộc thành phố Cao Hùng); Trung Quốc (thuộc tỉnh Hải Nam); Malaixia (thuộc tỉnh Sabah" [16]. Khí hậu ở vùng Biển quần đảo Trƣờng Sa khác biệt lớn với các vùng ven bờ. Mùa hè mát và mùa đông ấm hơn. Một số hiện tƣợng thời tiết cũng diễn biến khác với trong đất liền.

Hằng năm ở quần đảo Trƣờng Sa có tới 131 ngày gió mạnh từ cấp 6 trở lên, phân phối không đều trong các tháng. Có thể chia làm hai mùa: mùa khô và mùa mƣa. Mùa mƣa từ tháng năm đến tháng một năm sau, lƣợng mƣa trung bình hằng năm rất lớn vào khoảng 2500mm. Hiện tƣợng dông trên biển quần đảo này rất phổ biến, có thể nói quanh năm, tháng nào cũng có dông và là nơi thƣờng có bão lớn đi qua, tập trung vào các tháng mùa mƣa.

Chính vì đặc trƣng của khí hậu ở quần đảo Trƣờng Sa nhƣ đã nói ở trên cho nên quần đảo này thƣờng có thảm họa thiên nhiên đó là bão, nguy hiểm cho giao thông đƣờng biển vì có nhiều đảo đá ngầm và bãi nông. Địa chất của quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa đều là đá vôi, cát, những ám tiêu san hô tiêu biểu cho vùng biển nhiệt đới của Việt Nam. Trên một số đảo có đất và nguồn nƣớc tuy rất hạn chế nhƣng trồng đƣợc một số cây lâu năm nhƣ bàng vuông, phi lao, dừa. Độ sâu của biển Đông với đƣờng phân thuỷ 100m bao kín các vùng về phía Bắc và phía Đông.

Ở trên quần đảo Trƣờng Sa có ít thực vật sinh sống, chủ yếu là cây dừa, bàng vuông, phi lao, cây phong ba và các bụi cây leo, cỏ dại. Các sinh vật trên các đảo và dƣới biển quần Trƣờng Sa cũng phong phú nhƣ: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chim, rùa, đồi mồi, vích, ốc tai voi, ốc hƣơng đều tƣơng tự nhƣ các đảo ven biển Việt Nam nhƣ đảo Cù Lao Ré. Đặc biệt ở đây còn có loại vích là động vật quý hiếm, cá ngừ đại dƣơng có giá trị kinh tế cao [25]. Theo nhà nghiên cứu La Fontaine, các cuộc khảo sát cho thấy các động vật sống ở các đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa đều là các loài đã gặp ở đất liền Việt Nam, có môi trƣờng sinh sống gần với Việt Nam.

Vai trò của quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa 1. Vai trò về kinh tế Quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa có vị trí chiến lƣợc rất quan trọng và chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, cụ thể nhƣ sau: 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ