Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống phát thanh - truyền hình Việt Nam tính đến năm 2017 ghi nhận sự hiện diện của 67 Đài Phát thanh - Truyền hình Trung ương và địa phương với 281 kênh chương trình, thu hút gần 10.000 lao động chuyên nghiệp tại 63 đài cấp tỉnh. Trước sức ép của cuộc cách mạng công nghệ truyền thông và yêu cầu chuyển đổi cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP cũng như Nghị quyết 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, việc duy trì mô hình bao cấp nhà nước hoàn toàn không còn phù hợp. Nguồn ngân sách cấp cho nhiều đài địa phương chỉ ở mức hạn chế, đơn cử như Đài Phát thanh - Truyền hình Thái Bình năm 2017 được cấp 7 tỷ đồng, con số này chỉ vừa đủ để chi trả lương cho 120 cán bộ nhân viên, buộc toàn bộ chi phí đầu tư kỹ thuật và sản xuất nội dung phải dựa vào nguồn thu dịch vụ quảng cáo và liên kết ngoài xã hội.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học của tác giả Nguyễn Văn Hưng tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tập trung giải quyết bài toán: Làm thế nào để các đài truyền hình địa phương huy động hiệu quả các nguồn lực vật chất và trí tuệ từ xã hội nhưng vẫn giữ vững tôn chỉ chính trị và định hướng văn hóa? Nghiên cứu khảo sát sâu thực trạng tại 3 đài truyền hình tiêu biểu vùng kinh tế trọng điểm gồm Đài Phát thanh - Truyền hình Ninh Bình (NBTV), Nam Định (NTV) và Thái Bình (TBTV) trong khung thời gian 18 tháng, từ tháng 01/2017 đến tháng 06/2018. Khu vực Đồng bằng sông Hồng có diện tích khoảng 15.000 km2, dân số đông đảo với mức thu nhập bình quân đầu người của 3 tỉnh năm 2017 đạt trên 34 triệu đồng/người/năm, tạo ra dung lượng thị trường truyền thông giàu tiềm năng. Luận văn đặt mục tiêu thiết lập hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả xã hội hóa, giúp các nhà đài đáp ứng quy định tại Quyết định 1431/QĐ-TTg về tỷ lệ tự sản xuất đạt tối thiểu 70% và liên kết xã hội hóa tối đa 30% thời lượng phát sóng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận báo chí truyền thông hiện đại kết hợp các quan điểm kinh tế chính trị về phân bổ nguồn lực. Cơ sở lý thuyết của đề tài vận dụng sâu sắc quan điểm của C. Mác và V.I. Lênin về quá trình xã hội hóa lao động và tư liệu sản xuất, đồng thời kế thừa cách tiếp cận của giáo sư Võ Tòng Xuân về bản chất xã hội hóa là phương thức huy động, động viên các nguồn lực toàn dân tham gia phát triển các lĩnh vực công ích thay vì chỉ trông chờ vào bầu sữa ngân sách.

Trong lĩnh vực báo chí, luận văn tiếp cận khái niệm chương trình truyền hình theo quan điểm của các nhà khoa học như TS. Tạ Ngọc Tấn và PGS.TS. Dương Xuân Sơn, định nghĩa chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp logic giữa âm thanh, hình ảnh và dữ liệu nhằm truyền tải thông điệp hoàn chỉnh trong một khung giờ cố định. Khái niệm xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình được định hình rõ nét là hoạt động hợp tác bình đẳng giữa đài truyền hình với các đối tác pháp nhân bên ngoài ngành để huy động nguồn lực tài chính, ý tưởng sáng tạo và phương tiện kỹ thuật. Khung pháp lý soi chiếu trực tiếp bao gồm Luật Báo chí 2016 (Điều 37 về hoạt động liên kết), Nghị định 06/2016/NĐ-CP (Điều 16 về quản lý liên kết sản xuất phát thanh - truyền hình) và Thông tư 19/2009/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết thường niên của Bộ Thông tin và Truyền thông, hồ sơ sản xuất chương trình và khung lịch phát sóng thực tế của 3 đài NBTV, NTV, TBTV từ tháng 01/2017 đến tháng 06/2018. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ các chương trình có yếu tố liên kết, xã hội hóa phát sóng trong 18 tháng khảo sát, kết hợp với mẫu điều tra xã hội học gồm 300 phiếu trưng cầu ý kiến công chúng khán giả tại 3 tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo lứa tuổi và nghề nghiệp.

Phương pháp phỏng vấn sâu định tính được thực hiện với 18 cá nhân chủ chốt, bao gồm đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, lãnh đạo Sở Thông tin và Truyền thông, Ban Giám đốc các đài, trưởng phòng biên tập, đạo diễn sản xuất và đại diện các doanh nghiệp tài trợ truyền thông. Tác giả lựa chọn phương pháp nghiên cứu thực chứng kết hợp phân tích nội dung và điền dã tham gia trực tiếp quy trình tác nghiệp tại các đài. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan tuyệt đối, giúp đối chiếu giữa các quy chuẩn pháp lý trên văn bản với những diễn biến tác nghiệp thực tế tại trường quay và phòng hậu kỳ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về quy mô và các hình thức liên kết, nghiên cứu chỉ ra rằng hoạt động xã hội hóa tại 3 đài Ninh Bình, Nam Định và Thái Bình diễn ra sôi động thông qua 5 hình thức chính: trao đổi sản phẩm hoàn chỉnh, khai thác tài liệu phát sóng, tài trợ kinh phí sản xuất, giao khoán một số công đoạn kỹ thuật hậu kỳ và đặt hàng sản xuất trọn gói. Điển hình tại Đài Phát thanh - Truyền hình Nam Định (NTV), trong năm 2017 đã thiết lập mạng lưới trao đổi hàng chục chương trình chất lượng cao với Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC và các đài phía Nam như Sóc Trăng, Đồng Tháp, Bến Tre, giúp làm giàu kho nội dung phát sóng 24 giờ/ngày mà không làm gia tăng áp lực ngân sách.

Thứ hai, về cơ cấu nội dung và phân bổ thời lượng, các chương trình xã hội hóa tập trung chủ yếu vào các mảng giải trí, văn hóa, du lịch, nông nghiệp và tư vấn sức khỏe, chiếm khoảng 65% tổng số chương trình liên kết. Các chuyên mục tiêu biểu như "Giao lưu cùng ẩm thực", "Nông nghiệp nông thôn", "Đi và trải nghiệm", "Nét đẹp làng quê" hay gameshow "Vui cùng nhà nông" đạt tỷ lệ người xem cao. Tuyệt đối 100% các chương trình thời sự - chính trị thiết yếu vẫn do nội bộ các đài tự sản xuất, giữ tỷ lệ liên kết toàn kênh luôn ở mức dưới 30% tổng thời lượng phát sóng lần đầu, tuân thủ nghiêm ngặt quy định tại Nghị định 06/2016/NĐ-CP.

Thứ ba, về hiệu quả kinh tế và vận hành tổ chức, nguồn kinh phí huy động từ các doanh nghiệp tài trợ và chia sẻ doanh thu quảng cáo chiếm khoảng 35% đến 50% tổng nguồn thu sự nghiệp của các đài khảo sát. Tại Đài Phát thanh - Truyền hình Ninh Bình (NBTV), việc đẩy mạnh tự sản xuất 10 giờ/ngày kết hợp xã hội hóa các khung giờ cao điểm với các chương trình như "Cố đô ngày mới", "Nhịp cầu nhà nông" đã tối ưu hóa hiệu suất của đội ngũ phóng viên, kỹ thuật viên trẻ, đồng thời giảm bớt gánh nặng chi phí thiết bị máy móc chuyên dụng vốn có giá trị lên tới hàng tỷ đồng mỗi bộ.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu thực trạng có thể được hệ thống hóa rõ ràng thông qua bảng phân loại ma trận hình thức liên kết và biểu đồ so sánh cơ cấu tài chính giữa ngân sách cấp với nguồn thu xã hội hóa. Khi biểu diễn trên biểu đồ tròn, nguồn thu từ liên kết và quảng cáo chiếm hơn 60% tỷ trọng chi trả cho hoạt động chuyên môn tại các đài địa phương, chứng minh xã hội hóa là chìa khóa then chốt cho bài toán tự chủ.

Nguyên nhân tạo nên bước chuyển biến tích cực này xuất phát từ sức ép giảm chi ngân sách nhà nước, kết hợp với nhu cầu quảng bá thương hiệu ngày càng cao của hơn 750 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực truyền thông, nghe nhìn và sản xuất chương trình tại Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế đáng lo ngại: sự mất cân đối khi các đối tác tư nhân chỉ muốn tập trung tài trợ cho chương trình giải trí thuần túy; nguy cơ thương mại hóa làm phai nhạt bản sắc văn hóa đồng bằng Bắc Bộ; và việc kiểm soát chất lượng kịch bản từ các đơn vị bên ngoài đôi khi còn lỏng lẻo. So với các nghiên cứu trước đây tại các đài trung ương như Đài Truyền hình Việt Nam hay Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, xã hội hóa tại khu vực Đồng bằng sông Hồng gặp nhiều khó khăn hơn do quy mô doanh nghiệp địa phương còn nhỏ, nguồn vốn tài trợ biến động và vùng phủ sóng quảng bá còn giới hạn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn quy chế thẩm định và kiểm soát nội dung liên kết: Thiết lập quy trình tiền kiểm và hậu kiểm 3 cấp chặt chẽ do Hội đồng Biên tập nhà đài trực tiếp phê duyệt kịch bản và duyệt băng trước phát sóng. Mục tiêu đặt ra là 100% chương trình liên kết phải bảo đảm đúng tôn chỉ mục đích chính trị, định hướng văn hóa làng quê châu thổ sông Hồng, triển khai áp dụng ngay trong quý 1 năm sau dưới sự giám sát của Ban Giám đốc đài.

Thứ hai, đổi mới cơ chế hợp tác kinh tế và phân chia lợi nhuận quảng cáo: Xây dựng khung hợp đồng kinh tế minh bạch, áp dụng tỷ lệ chia sẻ thời lượng quảng cáo linh hoạt theo tỷ lệ đóng góp vốn (50:50 hoặc 60:40) nhằm thu hút các tập đoàn kinh tế lớn tham gia tài trợ dài hạn. Đặt mục tiêu nâng mức tăng trưởng doanh thu xã hội hóa từ 15% đến 20% mỗi năm, do Phòng Dịch vụ - Quảng cáo và Phòng Kế hoạch Tài chính phối hợp triển khai.

Thứ ba, chuẩn hóa năng lực đội ngũ nhân sự và cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Tổ chức định kỳ 2 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng tổ chức sản xuất truyền hình hiện đại, kỹ năng đạo diễn trường quay và biên tập đồ họa cho ít nhất 80% cán bộ, phóng viên tại 3 đài Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình. Đồng thời, tái đầu tư nguồn thu xã hội hóa để nâng cấp đồng bộ hệ thống ghi hình đạt chuẩn độ nét cao trong lộ trình 2 năm.

Thứ tư, xây dựng mạng lưới liên kết vùng và ngân hàng dữ liệu chương trình dùng chung: Thiết lập cơ chế hợp tác sản xuất liên tỉnh giữa 10 đài Phát thanh - Truyền hình khu vực Đồng bằng sông Hồng, cùng chia sẻ bản quyền các phóng sự, ký sự tài liệu về văn hóa lúa nước, hội làng, nghệ thuật chèo, rối nước. Cơ chế này giúp giảm 40% chi phí sản xuất chương trình mới cho mỗi đài, thực hiện theo định hướng điều phối của Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất, Ban Giám đốc và cán bộ quản lý tại các Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương: Cung cấp khung tham chiếu thực tiễn để xây dựng đề án tự chủ tài chính, hoạch định chiến lược liên kết sản xuất và tái cấu trúc khung giờ phát sóng hợp lý.

Nhóm thứ hai, các công ty truyền thông tư nhân, hãng phim và doanh nghiệp tài trợ: Giúp các nhà đầu tư nắm rõ quy trình pháp lý, hiểu được nhu cầu thực tế của các cơ quan báo chí để đề xuất các format chương trình phù hợp với thị hiếu công chúng địa phương.

Nhóm thứ ba, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí gồm Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo các Tỉnh ủy, Sở Thông tin và Truyền thông: Nắm bắt các rào cản chính sách phát sinh từ thực tiễn để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật và giám sát việc thực hiện tỷ lệ liên kết đúng quy định.

Nhóm thứ tư, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Báo chí - Truyền thông: Nguồn tài liệu học thuật giá trị phục vụ nghiên cứu về kinh tế báo chí, quản trị truyền hình và phương pháp điều tra xã hội học ứng dụng trong truyền thông đại chúng.

Câu hỏi thường gặp

Xã hội hóa sản xuất truyền hình có đồng nghĩa với việc tư nhân hóa hay bán sóng truyền hình không? Hoàn toàn không. Xã hội hóa là việc huy động nguồn lực xã hội phục vụ sản xuất nội dung dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà đài. Quyền cấp phép phát sóng, kiểm duyệt nội dung và định hướng tư tưởng luôn thuộc về cơ quan báo chí nhà nước theo Luật Báo chí 2016, không có việc tư nhân sở hữu hay phân lô bán sóng.

Quy định hiện hành giới hạn tỷ lệ liên kết sản xuất chương trình phát thanh - truyền hình ở mức nào? Theo Điều 16 Nghị định 06/2016/NĐ-CP và Quyết định 1431/QĐ-TTg, các đài địa phương phải tự sản xuất tối thiểu 70% tổng thời lượng phát sóng. Các chương trình liên kết trên kênh tuyên truyền thiết yếu không được vượt quá 30% tổng thời lượng phát sóng lần đầu, và tuyệt đối không liên kết các chương trình thời sự - chính trị.

Các đài địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng thường ưu tiên xã hội hóa những thể loại chương trình nào? Nhà đài ưu tiên liên kết ở các thể loại có nhu cầu tiếp nhận cao và dễ thu hút tài trợ như: văn hóa văn nghệ, ẩm thực, ký sự du lịch, hướng dẫn kỹ thuật nông nghiệp, tư vấn pháp luật, sức khỏe và các chương trình trò chơi truyền hình phục vụ nông dân.

Doanh nghiệp đối tác nhận được quyền lợi cụ thể gì khi tham gia tài trợ hoặc liên kết sản xuất? Đối tác liên kết được hoàn vốn và thu lợi nhuận thông qua quyền khai thác thời lượng quảng cáo, gắn biển tài trợ, giới thiệu hình ảnh thương hiệu trong chương trình một cách tự nhiên, đồng thời nâng cao uy tín xã hội thông qua các hoạt động đồng hành cùng cộng đồng.

Thách thức lớn nhất đối với các đài địa phương khi thực hiện cơ chế tự chủ tài chính là gì? Thách thức lớn nhất là nguồn lực tài chính hạn hẹp từ ngân sách (như trường hợp Thái Bình chỉ có 7 tỷ đồng/năm), trong khi phải cạnh tranh gay gắt với truyền thông mạng xã hội và đối mặt với sự thiếu hụt trang thiết bị hiện đại cùng đội ngũ chuyên gia làm truyền hình chuyên nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn luận giải sâu sắc tính tất yếu khách quan của quá trình xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình trong bối cảnh các đài phát thanh - truyền hình địa phương chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tài chính.
  • Khảo sát thực chứng tại 3 đài Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình phản ánh bức tranh sinh động về 5 phương thức liên kết, chứng minh hiệu quả giảm tải ngân sách và làm phong phú nội dung phát sóng.
  • Công trình chỉ ra nguy cơ thương mại hóa và những lỗ hổng trong quản lý kịch bản liên kết, từ đó khẳng định vai trò tối thượng của công tác kiểm duyệt nội dung theo chuẩn mực báo chí cách mạng.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện về thể chế, quản trị kinh tế, đào tạo nhân lực và liên kết mạng lưới vùng mở ra lộ trình phát triển bền vững cho truyền hình khu vực đến năm 2025.
  • Đóng góp nổi bật của luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu bài bản, chuyên sâu về kinh tế truyền hình tại vùng Đồng bằng sông Hồng, tạo cơ sở thực tiễn vững chắc cho các nhà quản lý hoạch định chiến lược phát triển báo chí địa phương trong kỷ nguyên số.