Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn xã hội hóa hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ Chương 2: Thực trạng hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ tại Văn phòng Đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương Chương 3: Phương hướng và các giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ tại Văn phòng Đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương 8 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG VỀ ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ 1. Các khái niệm chủ yếu trong hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ. Dịch vụ công 1. Khái niệm dịch vụ công Theo từ điển tiếng Việt thông dụng của Nguyễn Như Ý (chủ biên) thì “dịch vụ” được hiểu là công tác hoạt động sinh hoạt thường ngày cho đông đảo dân chúng.
Thuật ngữ DVC hiện nay được hiểu với nhiều khái niệm khác nhau, chưa có một khái niệm chung duy nhất, cụ thể như: Theo từ điển Petit Larousse của Pháp xuất bản năm 1992 đã định nghĩa: “DVC là hoạt động vì lợi ích chung, do cơ quan Nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm”. Khái niệm “Dịch vụ công - public Service” được sử dụng phổ biến rộng rãi ở châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Theo quan niệm của nhiều nước, DVC luôn gắn với vai trò của Nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ này. Từ góc độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng DVC là những hoạt động của cơ quan Nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính Nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội.
Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của Nhà nước đối với những hoạt động cung ứng hàng hóa công cộng. Cách tiếp cận khác xuất phát từ đối tượng được hưởng chủ yếu của DVC là hoạt động đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng đồng, còn việc tiến hành hoạt động ấy có thể do Nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm. DVC là những hoạt động và bảo đảm phục vụ cho lợi ích chung tối cần thiết của xã hội, do các cơ quan công quyền hay các chủ thể được cơ quan công quyền ủy nhiệm đứng ra thực hiện[57]. 9 Luan van DVC được hiểu là những hàng hóa và dịch vụ mà Chính phủ có trách nhiệm cung ứng hoặc quản lý việc cung ứng nhằm đảm bảo lợi ích của công dân.
Theo đó, DVC là loại dịch vụ do Nhà nước trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho đơn vị ngoài Nhà nước thực hiện dưới sự giám sát của tổ chức công quyền. Có thể hiểu DVC là dịch vụ do Nhà nước chịu trách nhiệm phục vụ những yêu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân không vì mục tiêu lợi nhuận. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, DVC bao gồm cả Dịch vụ công cộng lẫn dịch vụ hành chính công. Nhóm Dịch vụ công cộng liên quan đến dịch vụ xã hội như trường học, bệnh viện, hoạt động nghiên cứu.; dịch vụ công ích bao gồm cả cung ứng nước sạch, vệ sinh môi trường, giao thông công cộng.
Nhóm dịch vụ hành chính công gồm cấp phép, chứng nhận, xác nhận, thu các khoản đóng góp vào ngân sách, quỹ Nhà nước; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm hành chính, luật pháp[39]. Vì vậy, trong nghiên cứu khoa học, dù có nhiều khái niệm về DVC, nhưng nhiều nhà nghiên cứu khoa học đã chung quan điểm: “DVC là những hoạt động của các tổ chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được nhà nước uỷ quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp nhu cầu thiết yếu chung của cộng đồng, công dân, theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội”[50]. Đặc điểm dịch vụ công Các DVC mặc dù rất đa dạng cả về tính chất và hình thức cung ứng nhưng đều mang những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, DVC có tính xã hội. Dịch vụ này được thực hiện trong phạm vi rộng, bao gồm các hoạt động vì lợi ích cộng đồng, đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi công dân một cách bình đẳng, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội.
Thứ hai, nhà nước có trách nhiệm đảm bảo cung ứng DVC. Là một loại dịch vụ do Nhà nước (cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho các tổ chức, đơn vị ngoài Nhà nước thực hiện dưới sự giám sát của Nhà nước, nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, nhân dân (những nhu cầu tối thiểu, thiết yếu). 10 Luan van Thứ ba, nhà nước không phải là chủ thể duy nhất cung ứng DVC. DVC cung ứng loại “hàng hóa” không phải hàng hóa bình thường mà là hàng hóa đặc biệt do Nhà nước cung ứng hoặc uỷ quyền cho tổ chức, cá nhân thực hiện, đáp ứng yêu cầu toàn xã hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái vật chất hay tinh thần.
Thứ tư, nguyên tắc không chỉ vì lợi nhuận khi cung ứng DVC. Việc trao đổi DVC không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ. Thông thường, người sử dụng DVC không trực tiếp trả tiền, hay đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách Nhà nước. Cũng có những DVC mà người sử dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí, song Nhà nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các dịch vụ này không vì mục tiêu lợi nhuận.
Bên cạnh đó, theo bài viết “XHH DVC: Quan điểm tiếp cận và kinh nghiệm từ một số nước” của GS. Trần Ngọc Hiên đăng trên tạp chí Cộng sản ngày 18/6/2012 thì DVC có những đặc điểm: có tính chất xã hội cao; có mục tiêu là phục vụ lợi ích cộng đồng; không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội; công bằng và có tính quần chúng rộng rãi. Xã hội hóa dịch vụ công 1. Khái niệm xã hội hóa dịch vụ công Thuật ngữ XHH được đề cập đến rất nhiều trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên lại chưa có một khái niệm chung duy nhất mà phụ thuộc vào cách tiếp cận của các tác giả khác nhau thì khác nhau, cụ thể như: Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nxb. Văn hóa - Thông tin thì thuật ngữ XHH được giải thích là làm cho thành của chung. Một nhà xã hội học người Nga tên là G.Andreeva đã nêu khái niệm: “XHH là quá trình hai mặt, Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường, hệ thống các quan hệ xã hội. Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội”[51].
11 Luan van Một nhà xã hội học người Mỹ tên là Pichter đã viết: “XHH là một quá trình tương tác giữa người này với người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó” [53]. Một định nghĩa khác của các nhà xã hội học thuộc trường đại học Tennessee - Mỹ: “XHH là một quá trình học hỏi để cho một con người động vật trở thành một con người xã hội” [53]. Dưới góc độ tiếp cận xã hội học thì khái niệm XHH là quá trình mà qua đó cá nhân học hỏi, lĩnh hội nền văn hóa của xã hội như các khuôn mẫu xã hội. Quá trình mà nhờ đó cá nhân đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học được cách suy nghĩ và ứng xử phù hợp với vai trò xã hội của mình, qua đó nhằm giúp cá nhân có thể hòa nhập vào xã hội chung hay một nhóm xã hội cụ thể nào đó[53].
Trên bài báo “Những kỳ dị đằng sau cụm từ 'XHH' giáo dục” được đăng trên báo Vietnamnet ngày 22/7/2007 của GS. Bùi Trọng Liễu thì cụm từ “XHH” (tiếng Pháp là socialisation) vẫn thường được dùng theo nghĩa “tập thể hóa”, “đặt dưới chế độ cộng đồng”, “quản lý hay điều khiển của nhà nước nhân danh xã hội”. Nông Phú Bình (2000), Một số thuật ngữ hành chính, Nxb. Thế giới thì “XHH là quá trình chuyển hóa, tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới của một số lĩnh vực hoạt động KT-XH, trên cơ sở cộng đồng trách nhiệm nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội, phục vụ cho mục tiêu phát triển KT-XH của đất nước”.
Một cách tiếp cận khác của GS. Ngô Thành Dương[14] khái niệm XHH là nói lên sự chuyển hóa từ tính chất cá nhân thành tính chất xã hội, dùng chữ "hóa" là muốn nói đến sự chuyển hóa từ cái này sang cái kia. Ví dụ: "Công nghiệp hóa" là nói sự chuyển hóa từ một nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp. "Hiện đại hóa" là nói sự chuyển hóa từ một nền kinh tế lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại,… XHH là một hình thức đang được áp dụng rộng rãi trong nhiều ngành, lĩnh vực hiện nay do Nhà nước trực tiếp cung ứng.
XHH tạo cơ hội để có thể tồn tại hoạt động cung ứng DVC của nhiều tổ chức ở các thành phần kinh tế khác nhau thuộc sở hữu khác nhau. Các tổ chức này cùng cung ứng DVC trong môi trường pháp lý 12 Luan van bình đẳng và cùng cạnh tranh với nhau về chất lượng cung ứng. Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể mà các thành phần kinh tế sẽ tham gia ở mức độ khác nhau. Chính phủ không muốn độc quyền, nhưng các thành phần kinh tế khác không muốn tham gia do hiệu quả kinh tế mà họ nhận được.
Các thành phần kinh tế thường lựa chọn những lĩnh vực nào đem lại lợi nhuận cao, ít rủi ro để tham gia. XHH hoạt động cung ứng DVC với sự ra đời của nhiều chủ thể kinh tế thuộc các thành phần khác nhau kéo theo đòi hỏi Nhà nước phải trao quyền tự quản nhiều hơn cho các đơn vị cung ứng DVC. Họ phải được quyền quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động cung ứng DVC trong khuôn khổ pháp luật đã quy định. Vai trò quản lý vĩ mô của các cơ quan Nhà nước tập trung vào việc xây dựng hành lang pháp lý cho sự hoạt động của tất cả các tổ chức cung ứng DVC chứ không phải để can thiệp và hoạt động cụ thể của các chủ thể đó.