Tổng quan nghiên cứu
Kể từ khi Quốc hội thông qua bản sửa đổi Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001, Việt Nam đã chính thức khẳng định mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong cấu trúc phát triển hiện đại, Nhà nước, nền kinh tế thị trường và xã hội dân sự tạo thành ba trụ cột không thể tách rời. Trong khi thể chế nhà nước và kinh tế thị trường được phân tích sâu rộng, trụ cột xã hội dân sự tại Việt Nam vẫn tồn tại nhiều khoảng trống lý luận cần được giải mã cặn kẽ. Thực tiễn giai đoạn 2001 - 2005 ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc của khu vực này khi số lượng hiệp hội toàn quốc tăng từ 240 lên 320 tổ chức (tăng 33,3%), cùng sự hoạt động của hơn 2.150 hiệp hội cấp địa phương.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ bản chất, mối quan hệ tương hỗ và tính tất yếu khách quan giữa xã hội dân sự với tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mục tiêu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa các trường phái lý luận kinh điển trên thế giới, đánh giá thực trạng thể chế và khung pháp lý điều chỉnh các tổ chức xã hội từ năm 1945 đến năm 2011, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm từ Thái Lan và Trung Quốc.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định pháp luật điều chỉnh việc thành lập, tổ chức và quản lý các hội đoàn, tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế tại Việt Nam giai đoạn Đổi mới. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm nâng cao năng lực thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn về tác động chính sách khi chỉ số tác động xã hội dân sự chỉ đạt 1.2 điểm theo thang đo CIVICUS, tạo tiền đề hoàn thiện khung pháp luật về hội trong giai đoạn phát triển mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng và kết hợp ba hệ thống lý thuyết tư tưởng nền tảng trong lịch sử triết học chính trị và pháp lý nhân loại:
Thứ nhất là thuyết khế ước xã hội của Thomas Hobbes, John Locke, J.J. Rousseau và Montesquieu ở thế kỷ 17 và 18. Trường phái này xác định xã hội có trước nhà nước; quyền lực nhà nước bắt nguồn từ sự thỏa ước ủy quyền của các cá nhân. Montesquieu nhấn mạnh nguyên tắc phân chia và kiểm soát quyền lực, còn Rousseau khẳng định tự do tự nhiên chỉ được bảo đảm khi thiết chế công quyền bị giới hạn bởi khế ước xã hội nhằm phục vụ lợi ích chung.
Thứ hai là triết học pháp quyền của G.W.F. Hegel ở đầu thế kỷ 19. Hegel phân tích xã hội dân sự như một giai đoạn trung gian biện chứng giữa gia đình và nhà nước, nơi các cá nhân tự do theo đuổi lợi ích riêng nhưng chịu sự điều tiết của luật dân sự và sự quản trị tối cao của nhà nước để bảo đảm trật tự cộng đồng.
Thứ ba là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Karl Marx xuất phát từ phương thức sản xuất vật chất và quan hệ sở hữu để lý giải bản chất xã hội dân sự, khẳng định giải phóng con người thực sự chỉ đạt được khi tổ chức được sức mạnh xã hội gắn liền với lợi ích giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Nghiên cứu xây dựng mô hình phân tích dựa trên 4 khái niệm trung tâm: Xã hội dân sự (khu vực tự nguyện, tự quản ngoài nhà nước), Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (thượng tôn pháp luật, bảo đảm quyền con người), Quản trị công đa chủ thể và Cơ chế dân chủ tham gia (bổ khuyết cho dân chủ đại diện).
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn gồm 320 hiệp hội quốc gia, 2.150 tổ chức hội địa phương, hơn 540 tổ chức phi chính phủ quốc tế (INGO) và chuỗi dữ liệu kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn 15 năm (1995 - 2010).
Phương pháp chọn mẫu điển hình có chủ đích được áp dụng để so sánh thể chế quốc tế giữa hai quốc gia láng giềng: Thái Lan (quốc gia trải qua 6 bản hiến pháp với mô hình Luật Dân sự và Thương mại năm 1937) và Trung Quốc (quốc gia chuyển đổi với 3 giai đoạn phát triển và hệ thống quản lý song trùng).
Lý do lựa chọn phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp phân tích quy phạm và luật học so sánh nhằm phân định ranh giới giữa nhà nước và các tổ chức xã hội, đánh giá khách quan tiến trình lập pháp từ Luật số 102-SL/L-004 năm 1957, Nghị định số 35/HĐBT năm 1992, Nghị định số 88/2003/NĐ-CP cho đến Nghị định số 45/2010/NĐ-CP. Timeline nghiên cứu được thực hiện đồng bộ trong giai đoạn 2010 - 2011.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình khảo sát thực chứng mang lại 4 phát hiện căn bản:
Thứ nhất, số lượng các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam tăng trưởng vượt bậc trong thời kỳ Đổi mới. Số hiệp hội hoạt động ở quy mô quốc gia tăng từ 143 tổ chức năm 1995 lên 240 tổ chức năm 2001 và đạt 320 tổ chức vào năm 2005 (tăng 123,7% sau 10 năm). Ở cấp địa phương, số lượng hiệp hội tăng từ 1.400 tổ chức năm 2001 lên 2.150 tổ chức năm 2005 (tăng 53,6%). Riêng các tổ chức khoa học và công nghệ phi lợi nhuận thành lập theo Nghị định 35/HĐBT đã đạt con số khoảng 300 đơn vị vào đầu thập niên 2000.
Thứ hai, các tổ chức xã hội đóng góp thực chất vào thành tựu an sinh và xóa đói giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo tại Việt Nam đã giảm ấn tượng từ 58% năm 1992 xuống 29% năm 2002, đạt 24% năm 2004 và chỉ còn 9,45% vào năm 2010. Trong lĩnh vực y tế cộng đồng, mạng lưới của Hội Đông y Việt Nam đã đảm nhận khám và điều trị bệnh cho khoảng 33,3% (1/3) tổng số lượt bệnh nhân trên cả nước.
Thứ ba, sự tham gia sâu rộng của các tổ chức quốc tế và nguồn lực xã hội. Số lượng tổ chức phi chính phủ quốc tế (INGO) tăng từ khoảng 30 tổ chức năm 1990 lên 400 tổ chức năm 1999 và chạm mốc 540 tổ chức vào giữa thập niên 2000. Dòng viện trợ giải ngân hàng năm đạt 80 - 85 triệu USD, triển khai dự án tại 64/64 tỉnh thành. Về phía người dân, mức đóng góp tự nguyện cho hoạt động từ thiện đạt khoảng 1-2% thu nhập cá nhân.
Thứ tư, điểm số đánh giá theo mô hình Kim cương CIVICUS ghi nhận sự chênh lệch rõ nét giữa các chiều kích: Chiều kích Môi trường đạt 2.0 điểm, Chiều kích Giá trị đạt 1.8 điểm, Chiều kích Cấu trúc đạt 1.4 điểm và Chiều kích Tác động đạt mức thấp nhất là 1.2 điểm.
Thảo luận kết quả
Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua đồ thị Kim cương CIVICUS 4 cạnh, phản ánh một cấu trúc xã hội dân sự đang mở rộng nhưng năng lực phản biện chính sách còn khiêm tốn. Bảng thống kê cơ cấu hội cũng cho thấy 70 liên hiệp tổ chức kinh tế và 56 hội trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tập trung phần lớn nguồn lực tri thức, trong khi các hội địa phương còn phân tán.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do cơ chế hành chính hóa kéo dài từ giai đoạn 1975 - 1986 khiến nhiều hội đoàn quen ỷ lại vào ngân sách bao cấp. So sánh với kinh nghiệm của Trung Quốc (nơi có 1.800 tổ chức quốc gia và 165.600 tổ chức địa phương năm 1998) và Thái Lan (áp dụng diễn đàn nhân dân Prachakhom tại cấp xã, huyện, tỉnh theo Hiến pháp 1997), Việt Nam đang từng bước chuyển từ mô hình bao cấp sang mô hình tự quản.
Ý nghĩa lý luận rút ra là: Xã hội dân sự không triệt tiêu hay đối lập với quyền lực công quyền, mà đóng vai trò là đối tác hợp tác, kiểm soát quyền lực và hỗ trợ Nhà nước pháp quyền vận hành minh bạch, hiệu quả.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm thúc đẩy xã hội dân sự phát triển đồng bộ cùng tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, 4 giải pháp trọng tâm cần được thực thi:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế lập pháp bằng việc đẩy nhanh tiến độ soạn thảo và thông qua Luật về Hội nhằm thay thế cho Luật số 102-SL/L-004 đã ban hành từ năm 1957. Quốc hội và Bộ Nội vụ cần chủ trì ban hành 100% các văn bản quy phạm dưới luật hướng dẫn thi hành toàn diện Nghị định số 45/2010/NĐ-CP trong giai đoạn 2011 - 2013, bảo đảm quyền tự do lập hội hợp hiến của công dân.
Thứ hai, đổi mới cơ chế tài chính theo hướng tự chủ. Mục tiêu đặt ra là cắt giảm dần bao cấp ngân sách, nâng tỷ lệ tự trang trải kinh phí hoạt động của các tổ chức hội lên mức 75-80% trong giai đoạn 2012 - 2015. Bộ Tài chính phối hợp với các cơ quan chủ quản ban hành cơ chế ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp, cá nhân tài trợ cho các quỹ xã hội, quỹ từ thiện.
Thứ ba, chuyển giao dịch vụ công từ nhà nước sang khu vực xã hội. Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp cần xây dựng danh mục chuyển giao ít nhất 20-30% các hoạt động dịch vụ công ích, đào tạo nghề, tư vấn chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp và chăm sóc y tế cộng đồng cho các hội chuyên ngành đảm nhận đến năm 2015.
Thứ tư, chuẩn hóa năng lực quản trị nội bộ và tính minh bạch. Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng các tổ chức hội đoàn cần thiết lập quy chuẩn kiểm toán độc lập cho 100% các quỹ từ thiện và tổ chức phi chính phủ trong nước giai đoạn 2012 - 2016, nâng cao trách nhiệm giải trình trước cộng đồng.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và hệ thống dữ liệu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:
Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Nội vụ, Ban Dân vận Trung ương, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội). Dữ liệu phân tích 53 năm lập pháp từ năm 1957 đến 2010 cung cấp luận cứ thực tiễn trực tiếp để hoàn thiện dự thảo Luật về Hội.
Nhóm thứ hai là ban lãnh đạo các tổ chức hội, hiệp hội ngành nghề và các tổ chức phi chính phủ (đại diện cho hơn 320 hiệp hội quốc gia và 2.150 hội địa phương). Luận văn gợi mở giải pháp tái cấu trúc tài chính và quy trình quản trị minh bạch nhằm thích ứng với Nghị định 45/2010/NĐ-CP.
Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật. Công trình cung cấp hệ thống lý thuyết chuẩn mực từ Hobbes, Locke, Hegel, Marx cùng phương pháp tiếp cận đa ngành về quản trị nhà nước.
Nhóm thứ tư là các tổ chức tài trợ quốc tế và các mạng lưới phi chính phủ nước ngoài (hơn 540 INGOs đang hoạt động tại Việt Nam). Luận văn giúp nắm bắt bối cảnh văn hóa - chính trị bản địa, từ đó tối ưu hóa hiệu quả giải ngân nguồn viện trợ khoảng 85 triệu USD mỗi năm.
Câu hỏi thường gặp
Xã hội dân sự có bản chất đối lập với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không?
Hoàn toàn không. Xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền là hai mặt bổ trợ lẫn nhau trong một xã hội hiện đại. Trong khi Nhà nước bảo đảm trật tự và khung khổ pháp lý, xã hội dân sự thực hiện chức năng dân chủ tham gia và phản biện. Minh chứng là sự phối hợp giữa 320 hiệp hội quốc gia với cơ quan nhà nước đã thúc đẩy quản trị quốc gia minh bạch hơn.
Những mốc lập pháp quan trọng nhất điều chỉnh quyền lập hội tại Việt Nam là gì?
Lịch sử lập pháp ghi nhận 4 mốc cốt lõi: Sắc lệnh số 102-SL/L-004 năm 1957 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành; Nghị định số 35/HĐBT năm 1992 mở đường cho các tổ chức khoa học phi lợi nhuận; Nghị định số 88/2003/NĐ-CP tạo quy chế pháp lý đầu tiên cho các hiệp hội; và Nghị định số 45/2010/NĐ-CP hoàn thiện cơ chế tự chủ, tự quản.
Các tổ chức xã hội đóng góp như thế nào vào thành tựu giảm nghèo của Việt Nam?
Các tổ chức xã hội đóng vai trò cầu nối thực thi các chương trình an sinh xã hội, góp phần đưa tỷ lệ nghèo từ 58% năm 1992 xuống 9,45% năm 2010. Tiêu biểu như mô hình VACVINA với 210.000 hội viên đã phổ biến kỹ thuật sản xuất, hay Hội Đông y Việt Nam đảm nhận 33,3% khối lượng khám chữa bệnh cho người dân vùng khó khăn.
Mô hình Kim cương CIVICUS chỉ ra điểm nghẽn lớn nhất của xã hội dân sự Việt Nam là gì?
Khảo sát CIVICUS chỉ ra Chiều kích Tác động đạt điểm số thấp nhất với 1.2 điểm (so với Môi trường đạt 2.0 điểm). Điều này cho thấy dù số lượng hội tăng nhanh đạt hơn 2.150 hội địa phương, năng lực tham gia hoạch định chính sách, phản biện xã hội và tác động lên các quyết sách vĩ mô của các tổ chức vẫn còn nhiều giới hạn.
Kinh nghiệm quản lý của Thái Lan và Trung Quốc gợi mở điều gì cho Việt Nam?
Thái Lan phân cấp rõ ràng: Cục Cảnh sát quốc gia quản lý Hội, Bộ Nội vụ quản lý Quỹ theo Luật Dân sự 1937/1992 và thiết lập diễn đàn Prachakhom. Trung Quốc áp dụng quy chế đăng ký tổ chức phi doanh nghiệp tư nhân từ năm 1998 với hơn 700.000 cơ sở. Cả hai nước đều chứng minh sự cần thiết phải luật hóa đồng bộ hoạt động của các hội đoàn.
Kết luận
- Xã hội dân sự là một cấu phần khách quan của cấu trúc xã hội, tồn tại độc lập tương đối và có mối quan hệ biện chứng, tương hỗ với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Quy mô tổ chức xã hội tại Việt Nam phát triển nhanh chóng với 320 hiệp hội quốc gia, 2.150 hiệp hội địa phương và hơn 540 tổ chức phi chính phủ quốc tế đang vận hành hiệu quả.
- Khu vực xã hội đóng góp to lớn vào việc giảm tỷ lệ nghèo từ 58% xuống 9,45% và cung ứng dịch vụ y tế cho 33,3% người bệnh trên toàn quốc.
- Điểm nghẽn về năng lực tác động (1.2 điểm CIVICUS) và tính bao cấp tài chính đòi hỏi phải có cuộc cải cách mạnh mẽ theo tinh thần Nghị định số 45/2010/NĐ-CP.
- Kế hoạch hành động giai đoạn 2012 - 2020 cần ưu tiên hoàn thiện dự thảo Luật về Hội, chuẩn hóa 100% cơ chế tự chủ tài chính và kiểm toán độc lập.
Để tiếp cận toàn diện hệ thống dữ liệu thực chứng và khung lý luận chuyên sâu về thể chế quản trị xã hội dân sự, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý hãy tham khảo trọn vẹn văn bản luận văn thạc sĩ luật học tại thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội ngay hôm nay.