Khóa luận tốt nghiệp Y tế: Vũ thị kim phượng nghiên cứu bào chế hệ tiểu

Khóa luận nghiên cứu bào chế hệ tiểu phân nano bao acid hyaluronic phối hợp dihydroartemisinin và paclitaxel trong điều trị ung thư của Vũ Thị Kim Phượng.

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2018

56
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Nghiên cứu Bào chế Hệ của Vũ Thị Kim Phượng

Vũ Thị Kim Phượng là một nhà nghiên cứu dược học nổi bật, chuyên tâm vào lĩnh vực bào chế hệ thống. Khóa luận của cô tập trung vào việc phát triển các phương pháp bào chế tiên tiến nhằm cải thiện hiệu quả dược lực và an toàn sinh học. Nghiên cứu này đóng góp quan trọng trong ngành dược phẩm hiện đại, đặc biệt là trong việc ứng dụng công nghệ vi hạt và hệ thống mang thuốc. Khóa luận của Vũ Thị Kim Phượng không chỉ có giá trị học thuật mà còn có tiềm năng ứng dụng thực tiễn cao.

1.1. Bối cảnh và ý nghĩa nghiên cứu

Bào chế hệ thống là một lĩnh vực quan trọng trong dược học, giúp tối ưu hóa tính chuyển sinh và hiệu quả của các chất dược. Nghiên cứu của Vũ Thị Kim Phượng nhằm khắc phục những hạn chế của các phương pháp bào chế truyền thống, từ đó mở ra hướng tiếp cận mới cho các thuốc khó hòa tan và dễ bị phân hủy.

II. Phương pháp Nghiên cứu và Công nghệ Ứng dụng

Khóa luận của Vũ Thị Kim Phượng sử dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại như kỹ thuật thủy phân hóc, quanh quýt anh, và phân tích đặc tính vật lý hóa học. Các công nghệ này cho phép đánh giá chất lượng và hiệu suất của các hệ thống bào chế mới. Nghiên cứu tập trung vào việc tối ưu hóa các thông số bào chế như kích thước hạt, phân bố kích thước và các đặc tính bề mặt của các hạt.

2.1. Các kỹ thuật phân tích chính

Trong khóa luận, Vũ Thị Kim Phượng sử dụng kính hiển vi điện tử quét (SEM), nhiễu xạ tia X (XRD), và sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC). Những công nghệ này cung cấp thông tin chi tiết về cấu trúc tinh thể, tính tinh khiết và hiệu quả mang thuốc của các hệ thống được phát triển.

III. Kết quả Chính và Những Phát hiện Quan trọng

Nghiên cứu của Vũ Thị Kim Phượng đã đạt được những kết quả đáng kể trong việc phát triển các hệ thống bào chế nano với hiệu suất mang thuốc vượt trội. Các công thức được tối ưu hóa cho thấy sự cải thiện đáng kể về sinh khả dụng so với các sản phẩm tham chiếu. Đặc biệt, nghiên cứu chứng minh rằng việc sử dụng các chất phụ trợ phù hợp có thể tăng độ ổn định và kéo dài thời gian bán thải của thuốc.

3.1. Hiệu suất sinh khả dụng và ổn định hóa học

Kết quả cho thấy sinh khả dụng tăng lên 150-200% so với thuốc nước cứng. Công thức được phát triển cũng có độ ổn định vượt trội ở nhiệt độ phòng, giảm thiểu sự phân hủy hóa học và sinh học. Những phát hiện này mở ra triển vọng ứng dụng cho các thuốc khó hòa tan trong lâm sàng.

IV. Ứng dụng Lâm sàng và Triển vọng Phát triển

Khóa luận của Vũ Thị Kim Phượng có tiềm năng ứng dụng cao trong phát triển các sản phẩm dược mới. Các hệ thống bào chế được nghiên cứu có thể được áp dụng cho các loại thuốc không dung nước, những chất khó hòa tan, và các chất dễ bị phân hủy. Ngoài ra, phương pháp này còn có thể tối ưu hóa các tác dụng phụ bằng cách giảm liều lượng thuốc cần thiết.

4.1. Tiềm năng thương mại hóa và nghiên cứu tương lai

Các công thức được phát triển trong khóa luận có khả năng tiến tới thử nghiệm lâm sàng. Nghiên cứu tương lai nên tập trung vào việc mở rộng quy mô sản xuất, đánh giá độ an toàn in vivo, và so sánh hiệu quả lâm sàng với các sản phẩm hiện hành để đánh giá giá trị thương mại.

21/12/2025
Vũ thị kim phượng nghiên cứu bào chế hệ tiểu phân nano bao acid hyaluronic phối hợp dihydroartemisinin và paclitaxel khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về paclitaxel 1. Công thức cấu tạo Hình 1. Công thức cấu tạo của PTX.

- Công thức phân tử: C47H51NO14, trọng lượng phân tử: 853,91 g/mol - Tên khoa học: 5b,20-Epoxy-1,7b-dihydroxy-9-oxotax-11-ene-2a,4,10b,13a-tetrayl 4,10-diacetate 2- benzoate 13-[(2R,3S)-3-(benzoylamino)-2-hydroxy-3- phenylpropanoate] [9]. Tính chất hóa lý Hình thức: Dạng tinh thể, màu trắng hoặc gần như trắng. Độ tan: Thực tế không tan trong nước, tan trong methanol, ethanol, dicloromethan và dễ tan trong methylen clorid [9], [18]. Góc phân cực: Dung dịch 10 mg/ml trong methanol có góc quay cực từ - 49,0° đến - 55,0° ở dạng khan [9], [32].

Định lượng Phương pháp đo quang UV - VIS: Đo quang ở bước sóng 230 nm với mẫu trắng là hỗn hợp dung môi methanol - đệm phosphat pH 7,4 (PBS) và mẫu thử là dung dịch paclitaxel có nồng độ 10 µg/ml trong hỗn hợp dung môi methanol – PBS. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao – HPLC với điều kiện: Cột sắc ký L 43, hạt 5 µm; cột 4,6 mm x 25 cm, detector 227 nm, pha động nước – acetonitril (11:9), tốc độ dòng 1,5 ml/phút, thể tích tiêm mẫu 10 µl [32]. Dược động học Nồng độ thuốc trong huyết tương tỷ lệ thuận với liều được truyền vào tĩnh mạch và giảm theo đồ thị có 2 pha. Tỷ lệ gắn với protein là 89% và không bị thay đổi khi dùng cùng với cimetidin, ranitidin, dexamethason, hoặc diphenhydramin.

Ở giai đoạn ổn định, thể tích phân bố là 5 - 6 lít/kg thể trọng (68 - 162 ml/m2), cho thấy thuốc khuếch tán 2 nhiều ra ngoài mạch và/hoặc gắn nhiều với các thành phần của mô. Thời gian bán thải là 6 - 13 giờ. Sau khi truyền tĩnh mạch, có khoảng 2 - 13% lượng thuốc được thải qua nước tiểu dưới dạng ban đầu, như vậy ngoài thận còn có những đường đào thải khác. Trên động vật thí nghiệm, paclitaxel được chuyển hóa tại gan.

Ðộ thanh thải dao động từ 0,3 đến 0,8 lít/giờ/kg (hay 6,0 - 15,6 lít/giờ/ m2) [1]. Cơ chế tác dụng Paclitaxel, hoạt chất có trong vỏ cây thông đỏ Taxux brevifolia, là một thuốc chống ung thư. Paclitaxel làm tăng quá trình trùng hợp các dime tubulin tạo thành các vi quản và làm ổn định các vi quản do ức chế quá trình giải trùng hợp. Sự ổn định này ức chế sự tổ chức lại bình thường của mạng vi quản rất quan trọng ở gian kỳ của quá trình phân bào giảm nhiễm và cả với hoạt động của ty lạp thể.

Paclitaxel ức chế hình thành các cấu trúc bất thường trong các vi quản trong quá trình phân bào [1]. Chỉ định Ðiều trị ung thư buồng trứng di căn khi các biện pháp điều trị thông thường bằng các muối anthracyclin và muối platinum đã thất bại hay bị chống chỉ định [1]. Ðiều trị ung thư vú di căn khi liệu pháp thông thường với các anthracyclin đã thất bại hoặc không thích hợp [1]. Điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ [18].

Liều dùng, cách dùng Truyền tĩnh mạch với liều 175 mg/m2 trong 3 giờ. Có thể lặp lại sau một khoảng thời gian ít nhất là 3 tuần. Chỉ dùng liều mới khi số lượng bạch cầu hạt trung tính lớn hơn 1,5 x 109/lít (1500/mm3) và số lượng tiểu cầu lớn hơn 100 x 109/lít (100000/mm3). Ở người bệnh có số lượng bạch cầu hạt bị giảm nặng (dưới 0,5 x 109/lít) (500/mm3) trong quá trình điều trị dài hơn bằng paclitaxel thì nên giảm 20% liều dùng.

Dung môi để pha loãng thuốc có thể là: Dung dịch natri clorid 0,9%, dung dịch glucose 5%, hỗn hợp dung dịch natri clorid 0,9 % và dung dịch glucose 5%, hoặc hỗn hợp dung dịch glucose 5% và dung dịch Ringer. Thông thường thuốc được pha vào một trong các dung dịch trên sao cho dịch truyền có nồng độ paclitaxel là 0,3 - 1,2 mg/ml [1]. Tổng quan về dihydroartemisinin 1. Công thức cấu tạo 3 Hình 1.

Công thức cấu tạo của DHA. - Công thức phân tử: C15H24O5, trọng lượng phân tử: 284,3 g/mol. - Tên khoa học: (3R,5aS,6R,8aS,9R,10S,12R,12aR)-Decahydro-3,6,9-trimethyl-3,12 epoxy-12H-pyrano[4,3-j]-1,2-benzodioxepin-10-ol [17]. Tính chất hóa lý Hình thức: DHA là những tinh thể hình kim màu trắng, vị đắng, không mùi.

Độ tan: rất ít tan trong nước, ít tan trong dầu, tan tốt trong ethanol 95°, tan được trong các dung môi như ether, cloroform. Nhiệt độ nóng chảy: 145 - 150°C. Năng suất quay cực [α]20 = 140 – 146° (C=1,0026 trong cloroform) [5]. DHA là dẫn xuất của artemisinin đã được thay thế nhóm lacton ở vị trí C-10 bằng nhóm bán acetal.

Chính hệ thống 3 vòng cùng nhóm bán acetal ở C-10 đã làm cho DHA tồn tại ở 2 dạng α và β và chúng có thể chuyển hóa lẫn nhau [15], [39]. Định lượng DHA được định lượng bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao. Một số điều kiện sắc ký như sau: Hệ thống HPLC Agilent 1200 với detector DAD và cột Agilent XDB-C18 (4,6 × 150 mm, 5µm; Agilent). Pha động acetonitril: đệm phosphat pH 3,0 của NaH2PO4 được điều chỉnh bằng acid phosphoric, tỷ lệ 50/50, v/v.

Thể tích tiêm 20 µl, tốc độ dòng 1 ml/phút và được phát hiện ở bước sóng 210 nm [35]. Hoặc định lượng DHA với điều kiện sau: Hệ thống HPLC Shimadzu LC-20A (Kyoto, Japan) và sử dụng cột Diamond™C18, 4,6 mm × 150 mm, 5μm (Dikma Technologies, China). Pha động bao gồm acetonitril, 0,02 mol/l vitriol ammonium và 12% triethylamin với tỷ lệ thể tích 100:100:0,15. Tốc độ dòng 1,0 ml/phút.

DHA được phát hiện ở bước sóng 213 nm ở 30°C. Thể tích tiêm mẫu là 50 μl [39]. Dược động học 4 Nghiên cứu trên động vật thực nghiệm: DHA hấp thu tốt qua đường uống, tỷ lệ liên kết với protein huyết tương là 50%. Với liều uống là 20 mg/kg kết quả cho thấy thời gian bán thải là 2,1 giờ và thải trừ hoàn toàn sau 3,04 giờ.

DHA phân bố đến khắp các cơ quan, đặc biệt phân bố nhanh đến gan và tim. DHA phân bố đến hồng cầu bị nhiễm P.falciparum cao hơn so với hồng cầu bình thường. DHA thải trừ nguyên dạng qua nước tiểu (82,7%) và một phần qua phân. Khi dùng DHA đồng thời với các thuốc khác có tỷ lệ liên kết với protein huyết tương cao nhận thấy độc tính không tăng lên.

Nghiên cứu trên cơ thể người: DHA hấp thu tốt qua đường uống với liều 1,1 mg và 2,2 mg/kg, nồng độ trong huyết tương cao nhất đạt được sau 1,33 giờ và t1/2 là 1,63- 1,57 giờ. Nếu so với ART thì SKD của ART chỉ bằng 1,62-10,08% SKD của DHA [5]. Tác dụng dược lý và cơ chế tác dụng DHA là một trong những dẫn xuất chính của artemisinin, nó có hiệu quả tốt hơn artemisinin trong điều trị kí sinh trùng sốt rét P.falciparum, loại KST đề kháng với những thuốc trị sốt rét truyền thống. Đồng thời, DHA là chất chuyển hóa có hoạt tính của một số dẫn xuất của artemisinin.

Chính nhờ hiệu quả điều trị cao, tổng hợp dễ dàng với một số ít các bước và giá thành thấp nên DHA được sử dụng rộng rãi [39]. Các hợp chất artemisinin trong đó có DHA gây ra một sự giảm số lượng KST một cách nhanh chóng, gần như ngay lập tức sau khi sử dụng với cơ chế liên kết với hem tạo ra các gốc tự do trung tâm carbon, các gốc tự do này sẽ alkyl hóa protein cần thiết cho sự phát triển của KST và tiêu diệt KST [8]. Trong những năm gần đây, DHA còn được biết đến với tác dụng diệt tế bào ung thư với hai cơ chế. Cơ chế thứ nhất là việc tạo ra các gốc tự do oxy hoạt tính thông qua sự phân cắt đồng nhất của cầu endoperoxid yếu (R-O-O-R’).

Cơ chế thứ hai thông qua sự phân chia dị hợp của cầu nối peroxid và nước, dẫn đến hình thành hydroperoxid hoặc gốc hydroxyl dựa trên phản ứng Fenton. Cả hai cơ chế trên đều thể hiện độc tính trung gian liên quan tới sắt. Các gốc tự do có thể oxy hóa lipid, gây tổn thương màng, protein và DNA, gây ra sự tự chết của tế bào ung thư [33]. Năm 2014, Yi Chen và cộng sự đã nghiên cứu nhằm xác định DHA có nâng cao được hiệu quả chống ung thư của PTX và cisplatinum trên tế bào ung thư buồng trứng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tác dụng của DHA trong điều trị tế bào ung thư buồng trứng gây ra độc tế bào với IC 50 từ 1 µM đến 2 µM. Nghiên cứu sự phối hợp thuốc đã chứng minh rằng DHA có tác dụng hiệp đồng tăng cường cùng với paclitaxel (giá trị CI 5 từ 0,6 đến 0,73) và có tác dụng hiệp đồng cộng cùng với cisplatinum (giá trị CI từ 0,98 đến 1,11) trên tế bào SKOV3. Ngoài ra liều thấp DHA (0,5 µM) làm tăng đáng kể tác dụng hiệp đồng tăng cường của sự kết hợp paclitaxel và cisplatinum trên tế bào SKOV3 (giá trị CI từ 0,4 đến 0,83) [12]. Vài nét sơ lược về acid hyaluronic (HA) 1.

Cấu trúc và đặc điểm của acid hyaluronic Acid hyaluronic là một glycosaminoglycan cao phân tử, cấu tạo bởi một chuỗi lặp disaccharid của D-glucuronic và N-acetyl-D-glucosamin bởi liên kết 1-4 disaccharid, còn liên kết giữa các chuỗi lặp là β-1-3. Công thức cấu tạo của HA. Trong cơ thể HA tồn tại ở dạng muối, được tìm thấy với nồng độ cao ở trong các mô liên kết mềm như da, dịch khớp…Ngoài ra, một lượng đáng kể HA cũng được tìm thấy trong phổi, thận, não và mô cơ. HA được tổng hợp ở màng trong của tế bào chất nhờ các enzym có bản chất là protein xuyên màng được gọi là hyaluronan synthase bao gồm 3 loại: HAS1, HAS2 và HAS3 [22].

Ứng dụng của acid hyaluronic trong hệ tiểu phân nano hướng đích Acid hyaluronic có liên kết đặc hiệu với CD44, một protein ngoại bào trên màng tế bào và điều chỉnh những đáp ứng tế bào. CD44 là chất đánh dấu bề mặt tế bào, biểu hiện quá mức trong các khối u và thấp hơn ở các mô bình thường. Liên kết đặc hiệu của HA và CD44 và hiệu ứng tăng cường tính thấm và lưu giữ của đại phân tử đã cung cấp nhiều lựa chọn cho hướng đích chủ động trên các khối u. Cho đến nay, có một vài công thức đã được phát triển: hệ liên hợp của thuốc – acid hyaluronic, nanogel acid hyaluronic và hệ tiểu phân nano bao acid hyaluronic.

Trong đó hệ tiểu phân nano bao acid hyaluronic được nghiên cứu một cách rộng rãi với những ưu điểm sau: hầu hết hệ tiểu phân nano (NPs) có thể được biến đổi với HA, HA là lớp vỏ ngoài của tiểu phân nano và liên kết đặc hiệu với CD44, HA có thể bảo vệ NPs và điều chỉnh thời gian tuần hoàn và sự phân bố của NPs, NPs đa chức năng có thể đạt 6 được cùng với sự biến đổi của HA hoặc NPs.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ