Tổng quan luận án

Nghệ thuật sân khấu Tuồng là loại hình sân khấu kịch hát truyền thống của dân tộc Việt Nam, trải qua quá trình hình thành và phát triển từ khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ XVII. Trong lịch sử sân khấu, nhiều tác phẩm Tuồng đã trở thành kinh điển như Sơn Hậu, Dương Chấn Tử, Giác Oan, An trào kiếm, Tam nữ đồ vương, Hồ thạch phủ. Về cấu trúc nghệ thuật, sân khấu Tuồng là thể loại kịch hát tổng hợp bao gồm văn học, hội họa, âm nhạc, múa, vũ đạo và diễn xuất, trong đó nghệ thuật biểu diễn của diễn viên giữ vị trí trung tâm. Vũ đạo Tuồng (thường gọi là múa Tuồng) là một trong ba mô hình diễn xuất căn bản (cùng với nói lối và hát tuồng) mà người diễn viên sử dụng để khắc họa mô hình nhân vật. Các động tác hình thể trong đời sống khi đưa lên sàn diễn đều được cách điệu hóa, khuếch đại hóa và ước lệ hóa thành các bộ vũ đạo chuẩn mực như bộ chỉ, bộ chào, bộ lên ngựa, bộ nhảy thành, bộ long.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả luận án chỉ ra là: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận Tuồng dưới góc độ lịch sử hình thành, thi pháp kịch bản, mỹ học sân khấu, hoặc miêu tả kỹ thuật các động tác vũ đạo mang tính giáo trình thực hành nghề nghiệp. Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu vũ đạo Tuồng một cách có hệ thống dưới góc nhìn ký hiệu học; chưa có công trình nào sử dụng các lý thuyết ký hiệu học phương Tây để soi chiếu ngôn ngữ động tác hình thể của sân khấu truyền thống phương Đông, cũng như xây dựng bảng mã hóa và giải mã mô hình vũ đạo của từng loại hình nhân vật phục vụ công tác biểu diễn, lưu trữ số hóa và bảo tồn di sản.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là ứng dụng các nguyên lý khoa học của ký hiệu học để làm rõ các tầng nghĩa của vũ đạo trong nghệ thuật biểu diễn Tuồng; xây dựng bảng mã hóa và giải mã vũ đạo của một số mô hình nhân vật tiêu biểu trong nghệ thuật biểu diễn Tuồng truyền thống; từ đó phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo, biểu diễn và bảo tồn nghệ thuật truyền thống. Mục tiêu cụ thể gồm: (1) Phân tích hệ thống mô hình nhân vật và mô hình vũ đạo Tuồng mà người diễn viên sử dụng trong các vở diễn truyền thống dưới lăng kính ký hiệu học để làm rõ cơ chế tạo nghĩa của động tác hình thể; (2) Đề xuất cách thức tiếp cận hệ thống ký hiệu vũ đạo Tuồng trong giáo dục văn hóa nghệ thuật truyền thống cho công chúng trẻ.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định qua bốn điểm:

  1. Xác định cơ sở lý luận về vũ đạo Tuồng, ký hiệu học và phương thức tiếp cận vũ đạo Tuồng từ góc nhìn ký hiệu học.
  2. Thông qua các vở diễn truyền thống, tư liệu văn bản, băng đĩa hình và phỏng vấn chuyên sâu chuyên gia, nghệ sĩ để phân tích các mô hình nhân vật và mô hình vũ đạo đặc trưng.
  3. Vận dụng khung lý thuyết ký hiệu học của Ferdinand de Saussure, Charles Sanders Peirce và Umberto Eco để phân tích các động tác vũ đạo tiêu biểu của các kiểu vai truyền thống.
  4. Đề xuất cách thức ứng dụng việc mã hóa và giải mã ký hiệu học vũ đạo Tuồng trong biểu diễn đương đại, bảo tồn, lưu trữ, số hóa và phát triển nghệ thuật sân khấu Tuồng.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 3 nhóm:

  • Nhóm câu hỏi thứ nhất: Từ góc nhìn của ký hiệu học, trong trình thức biểu diễn của sân khấu Tuồng (bao gồm mô hình nhân vật và mô hình diễn xuất), vũ đạo Tuồng mang trong nó những ký hiệu nhằm truyền tải ý nghĩa như thế nào?
  • Nhóm câu hỏi thứ hai: Có thể xây dựng, đưa ra một hệ thống ký hiệu của vũ đạo Tuồng hoặc hệ thống mã hoá và giải mã vũ đạo Tuồng của các mô hình nhân vật trong nghệ thuật biểu diễn Tuồng truyền thống không? Việc giải mã vũ đạo Tuồng thông qua lý thuyết ký hiệu học có góp phần nâng cao chất lượng biểu diễn Tuồng và đưa nghệ thuật Tuồng tới gần khán giả hôm nay không?
  • Nhóm câu hỏi thứ ba: Nghiên cứu về ký hiệu học vũ đạo Tuồng có thể được ứng dụng trong công tác bảo tồn, phát huy và phát triển nghệ thuật Tuồng trong giai đoạn hiện nay không?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm 3 giả thuyết:

  • Giả thuyết thứ nhất: Động tác vũ đạo của diễn viên đóng vai trò là cái biểu đạt (hình thức) để tạo ra cái được biểu đạt (nội dung, ý nghĩa) theo quan điểm ký hiệu học của Saussure; mỗi động tác có thể phân tích theo mô hình ba thành tố representamen (biểu trưng) - object (đối tượng) - interpretant (giải nghĩa) của Peirce; kết hợp với lý thuyết về mã và quá trình tạo nghĩa của Eco để xem vũ đạo Tuồng là hệ thống ký hiệu mở, vận hành nhờ các mã văn hóa, mã biểu diễn và mã thẩm mỹ.
  • Giả thuyết thứ hai: Các ký hiệu mã hóa của vũ đạo Tuồng tham gia trực tiếp vào tiến trình biểu diễn của diễn viên và truyền tải các tầng nghĩa đến khán giả - tạo nên mối quan hệ ba thành phần giải nghĩa của sân khấu: Diễn viên - nhân vật - khán giả.
  • Giả thuyết thứ ba: Ứng dụng ký hiệu học trong bảo tồn, phát huy và phát triển nghệ thuật Tuồng gắn với chuyển đổi số sẽ mang lại giá trị thiết thực cho việc bảo lưu nghệ thuật truyền thống.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm: lịch sử hình thành nghệ thuật Tuồng và vũ đạo Tuồng; mô hình vũ đạo Tuồng với hệ thống các bộ, động tác tiêu biểu; lý thuyết ký hiệu học; vũ đạo Tuồng dưới góc nhìn ký hiệu học (mã động tác vũ đạo, mã văn hóa, mã thẩm mỹ, cơ chế nhị phân Saussure, mô hình tam đoạn Peirce và lý thuyết tiếp nhận của Eco).

Phạm vi nghiên cứu bao gồm: mô hình vũ đạo và mô hình nhân vật trong sân khấu Tuồng truyền thống; hệ thống lý thuyết ký hiệu học liên quan; khảo sát thực tế tập trung vào mô hình nhân vật và mô hình vũ đạo trong ba vở diễn kinh điển do Nhà hát Tuồng Việt Nam dàn dựng: Sơn Hậu, Nữ tướng Đào Tam Xuân, Võ Tam Tư trảm cáo.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia thành ba nhóm công trình cụ thể:

Nhóm 1 gồm các công trình nghiên cứu về Tuồng và nghệ thuật biểu diễn Tuồng truyền thống:

  • Nghệ sĩ Lê Bá Tùng và nhà nghiên cứu Thành Đăng Khánh (1977, Đời tôi trên sân khấu Tuồng, Nxb Văn hóa) đúc kết nguyên tắc "gợi và tả" cùng yêu cầu thể hiện "cái thần" của nhân vật trong biểu diễn.
  • Nhà nghiên cứu Phạm Phú Tiết (1987, Hội thoại về nghệ thuật Tuồng, do GS. Hoàng Chương sưu tầm, Nxb Văn hóa) khẳng định Tuồng là nghệ thuật tổng hợp thi - ca - vũ - nhạc - họa, trong đó vũ đạo bao gồm từ cử động chân tay đến nét mặt, mắt, râu, tóc.
  • GS. Hoàng Châu Ký với bài viết "Vài suy nghĩ về đặc điểm nghệ thuật của Tuồng Hát Bội" trong Tuồng một chặng đường 1952-1992 (Viện Sân khấu, 1993), công trình Sơ khảo nghệ thuật Tuồng (2005) và tuyển tập Giáo sư Hoàng Châu Ký với nghệ thuật Tuồng Việt Nam (2010, Nxb Tổng hợp TPHCM) chỉ ra tính mô hình hóa của động tác hình thể và các quy tắc vũ đạo như chân chữ đinh, đi hình chữ nhất, múa có vay có trả, tỉa râu từng sợi của vai nịnh.
  • NSND Đặng Hùng (1993, bài viết "Giá trị độc đáo của vũ đạo Tuồng" trong Tuồng một chặng đường 1952-1992) phân tích sức biểu cảm của vũ đạo qua các trích đoạn: "Mạnh Lương bắt ngựa", "Trịnh Đình Minh câu cá", "Tiết Giao đoạt ngọc", "Nguyệt Cô hóa cáo", "Khương Linh Tá Đổng Kim Lân".
  • GS. Lê Ngọc Cầu và Phan Ngọc (1994, Nội dung xã hội và mỹ học Tuồng Đồ, Nxb Khoa học Xã hội) phân tích nguyên lý diễn xuất chung của Tuồng Thầy và Tuồng Đồ về mô hình nhân vật, vẽ mặt, phục trang, âm nhạc, không gian thời gian.
  • TS. Xuân Yến với Những vấn đề thẩm mỹ - đạo lý - xã hội trong Tuồng cổ (1994, Nxb Sân khấu) và Nghệ thuật Tuồng trong thời đại mới (1998, Nxb Sân khấu) bàn về thủ pháp ước lệ, lột tả cái thần và thách thức mô hình hóa nhân vật trong thời đại mới.
  • Nhà nghiên cứu Mịch Quang (1995, Đặc trưng nghệ thuật Tuồng, Nxb Sân khấu) khẳng định nghệ thuật diễn xuất Tuồng sử dụng âm nhạc và vũ đạo làm thủ pháp cách điệu động tác lời và hình thể.
  • Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Nhung (1996, Vị trí thể loại Sân khấu Tuồng truyền thống, Nxb Sân khấu) đánh giá múa là thủ pháp hàng đầu trong nghệ thuật biểu diễn Tuồng.
  • Nhóm tác giả GS.TS. Đào Mạnh Hùng, PGS.TS. Hồ Sĩ Vịnh, PGS.TS. Tất Thắng, TS. Trần Đình Ngôn nghiên cứu về bản sắc dân tộc và sự phát triển của sân khấu truyền thống.
  • GS.NSND Đình Quang (2004, Về đặc trưng và hướng phát triển của Tuồng Chèo truyền thống, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội) liệt kê các động tác bộ cơ bản của múa Tuồng: loan, khoát, cuộn, dựng, bê, xiên, lăn.
  • Nhà giáo Trịnh Kim Huệ (2005, Giáo trình vũ đạo Tuồng, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội) hệ thống hóa bài bản cách thực hành các bộ vũ đạo cơ bản theo từng dạng vai.
  • PGS. Tất Thắng với Nghệ thuật Tuồng, nhận thức từ một phía (2006) và Lịch sử Nghệ thuật Tuồng thế kỷ XX (2021, Nxb Sân khấu) khảo cứu thi pháp, hệ thống nhân vật và tiến trình chuyển đổi từ Tuồng cổ sang Tuồng hiện đại.
  • PGS.TS. Trần Trí Trắc với Đại cương nghệ thuật Sân khấu (2009, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội) và Tuồng (2021) phân loại các mô hình nhân vật (kép trung, kép võ, kép văn, kép xanh, kép rằn; đào thương, đào võ, đào lẳng; lão võ, lão văn, lão say), phân tích luật tứ tương trong múa (nội ngoại tương quan, tả hữu tương ứng, phì sấu tương chế, thượng hạ tương phù) và yêu cầu thực - hư - đại thực.
  • Nhà nghiên cứu Xuân Hồng (2009, Nghệ thuật biểu diễn Tuồng, Nxb Sân khấu), NSND Nguyễn Ngọc Phương (2011, Đạo diễn với kịch hát dân tộc, Nxb Sân khấu), nhà nghiên cứu Nguyễn Khoa Linh (2014, Truyền thống và cách tân kịch bản Tuồng từ sau cách mạng tháng Tám đến nay, Nxb Sân khấu).

Nhóm 2 gồm các công trình nghiên cứu lý thuyết ký hiệu học:

  • Ferdinand de Saussure (1916, Giáo trình ngôn ngữ học đại cương - Cours de linguistique générale) đặt nền tảng ngôn ngữ học cấu trúc với mô hình nhị phân: cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified), tính võ đoán và tính quy ước của ký hiệu, phân biệt langue và parole.
  • Charles Sanders Peirce (1931-1958, Collected Papers) xây dựng thuyết ký hiệu tam phân gồm cái biểu trưng (representamen) - đối tượng (object) - cái diễn giải (interpretant); phân loại ký hiệu thành icon, index, symbol; luận giải quá trình tạo nghĩa liên tục (semiosis).
  • Roland Barthes (1957, Mythologies; 1964, Cơ sở ký hiệu học, bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Quốc Thắng, Nxb Tổng hợp TPHCM) mở rộng ký hiệu học sang văn hóa với hệ thống nghĩa biểu thị bậc một (denotation), nghĩa hàm chỉ bậc hai (connotation) và cấu trúc huyền thoại (myth).
  • Umberto Eco với The Open Work (1962), A Theory of Semiotics (1976), Ký hiệu học và triết học ngôn ngữ (1984) và Đế chế ký hiệu (Nxb Nhã Nam) phát triển lý thuyết về mã (codes), phân biệt giao tiếp (communication) và tạo nghĩa (signification), nhấn mạnh vai trò diễn giải của người tiếp nhận trong một văn bản nghệ thuật mở.
  • Các công trình trong nước: PGS.TS. Nguyễn Tri Nguyên và TS. Cung Dương Hằng (2015, Giáo trình ký hiệu học văn hoá, Nxb Thông tin và Truyền thông); PGS.TS. Lê Huy Bắc (2017, Ký hiệu học văn học, Nxb Giáo dục Việt Nam; Ký hiệu và liên ký hiệu, Nxb Tổng hợp TPHCM); Lã Nguyên (2019, Phê bình ký hiệu học, Nxb Phụ nữ); GS. Trịnh Bá Đĩnh (2023, Ký hiệu học văn chương - Biểu tượng và văn bản nghệ thuật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội).

Nhóm 3 gồm các công trình về ký hiệu học sân khấu và biểu diễn:

  • Keir Elam (1980/2002, The Semiotics of Theatre and Drama) xác lập sân khấu là hệ thống giao tiếp đa mã (multiple codes), phân biệt văn bản kịch (dramatic text) và văn bản biểu diễn (performance text), đề cao vai trò giải mã tích cực của khán giả.
  • Erika Fischer-Lichte (1997, Ký hiệu học sân khấu và điện ảnh, Tập 1: Hệ thống ký hiệu Sân khấu, Nxb Viện Phim; 2009/2014, Ký hiệu học nhà hát) định vị cơ thể và động tác của diễn viên là ký hiệu trung tâm của sân khấu; phân tích mã sân khấu không ảo giác (như Kinh kịch, Nô, Tuồng) hoạt động dựa trên tri thức quy ước được xác lập ổn định qua thời gian.
  • Yuri Lotman (1997, Ký hiệu học và mỹ học Điện ảnh, Nxb Viện Phim) và khái niệm "Semiosphere" (ký hiệu quyển) xem văn hóa và nghệ thuật biểu diễn là không gian ký hiệu đa ngữ.
  • TS. Nguyễn Cao Thanh (2022, Tiếp cận ký hiệu học điện ảnh qua lý thuyết của Charles Sanders Peirce, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội); các tài liệu của Tadeusz Kowzan và Patrice Pavis.

Khoảng trống nghiên cứu và vị trí của luận án: Từ khảo sát trên, tác giả luận án nhận định các nghiên cứu về Tuồng trước đây chỉ dừng lại ở phương diện lịch sử, thi pháp kịch bản hoặc miêu tả kỹ thuật vũ đạo đơn thuần, chưa có công trình nào tiếp cận vũ đạo Tuồng dưới góc nhìn ký hiệu học. Luận án chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách vận dụng các khung lý thuyết ký hiệu học cấu trúc và ký hiệu học văn hóa để giải mã hệ thống động tác vũ đạo Tuồng, xem xét vũ đạo như một hệ thống mã hóa và tạo nghĩa trong mối quan hệ giữa diễn viên, nhân vật và khán giả.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Các khái niệm thao tác được xác định trong luận án gồm:

  • Góc nhìn: Điểm xuất phát hoặc phương thức xem xét, đánh giá đối tượng nghiên cứu.
  • Vũ đạo Tuồng: Hệ thống động tác hình thể của diễn viên được cách điệu hóa, khuếch đại hóa, ước lệ hóa trên sân khấu, vận động nhịp nhàng, cân đối với lời hát, làn điệu và tiết tấu nhằm thể hiện tính cách, tâm trạng và tác phong của nhân vật.
  • Ký hiệu học: Ngành khoa học nghiên cứu về bản chất, cấu trúc và quy luật vận hành của các hệ thống ký hiệu trong đời sống và văn hóa xã hội.
  • Mô hình nhân vật Tuồng: Khuôn mẫu nhân vật sân khấu truyền thống đã được điển hình hóa cao độ (kép, đào, lão, nịnh, hề), gắn liền với quy chuẩn phục trang, hóa trang mặt nạ và trình thức diễn xuất riêng biệt.

Khung lý thuyết tiếp cận của luận án kết hợp các trường phái:

  • Trường phái Ferdinand de Saussure: Ứng dụng mô hình nhị phân để xem xét động tác vũ đạo là cái biểu đạt (signifier - hình thức vận động hình thể mang tính quy ước) và ý niệm, tính cách, hoàn cảnh kịch là cái được biểu đạt (signified - nội dung ngữ nghĩa). Mối liên kết giữa hai mặt này có tính võ đoán và được thiết lập qua quy ước thẩm mỹ truyền thống.
  • Trường phái Charles Sanders Peirce: Tiếp cận quá trình ký hiệu (semiosis) theo mô hình tam diện ba thành tố: cái biểu trưng (representamen - hình thức động tác của diễn viên), đối tượng (object - nhân vật và hành động kịch mà động tác hướng đến) và cái diễn giải (interpretant - nhận thức và sự hiểu nghĩa của khán giả). Đồng thời vận dụng ba loại ký hiệu: ký hiệu tượng trưng (icon), ký hiệu chỉ dấu (index) và ký hiệu quy ước (symbol) để phân loại các bộ vũ đạo.
  • Trường phái Roland Barthes: Khảo sát nghĩa biểu thị bậc một (denotation - nghĩa trực tiếp của hành động thể xác) và nghĩa hàm chỉ bậc hai (connotation - tầng nghĩa văn hóa, đạo lý phong kiến) cùng cấu trúc huyền thoại trong các bộ vũ đạo Tuồng.
  • Trường phái Yuri Lotman: Coi sân khấu Tuồng là một ký hiệu quyển (semiosphere) mang tính đa ngữ, trong đó vũ đạo là bộ mã hình thể tương tác hữu cơ với mã ngôn từ, âm nhạc và phục trang.
  • Trường phái Umberto Eco: Tiếp cận lý thuyết mã (theory of codes) và mô hình giao tiếp thẩm mỹ để phân tích tiến trình người phát (diễn viên mã hóa động tác) chuyển tải thông điệp qua văn bản biểu diễn đến người nhận (khán giả giải mã thông qua mạng lưới văn hóa chung).

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Khảo sát chi tiết từng động tác, từng bộ vũ đạo trong các trích đoạn, vở diễn cụ thể, sau đó tổng hợp thành các chuỗi ký hiệu cấu trúc của mô hình nhân vật.
  • Phương pháp hệ thống - đối chiếu: Phân loại hệ thống mô hình nhân vật Tuồng và đối chiếu các mô hình vũ đạo tương ứng (đối chiếu vũ đạo kép với vũ đạo nịnh, vũ đạo đào võ với đào thương) để làm rõ sự khác biệt trong mã biểu đạt.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp kiến thức sân khấu học, ký hiệu học, văn hóa học và mỹ học truyền thống nhằm soi chiếu đa tầng các lớp nghĩa của vũ đạo.
  • Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Khảo sát ý kiến chuyên môn thông qua phỏng vấn sâu các nghệ nhân, nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà nghiên cứu sân khấu và chuyên gia ký hiệu học để thu thập nhận định về kỹ thuật và quy ước biểu diễn.

Nguồn tư liệu khảo sát: Văn bản kịch bản, băng đĩa hình ghi lại các vở diễn chuẩn mực do Nhà hát Tuồng Việt Nam dàn dựng (Sơn Hậu, Võ Tam Tư trảm cáo, Nữ tướng Đào Tam Xuân); các giáo trình giảng dạy vũ đạo Tuồng của Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội; các tài liệu di cảo, chuyên khảo lý luận sân khấu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của luận án

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm công cụ và nền tảng lý thuyết cho đề tài:

  • Trình bày lịch sử hình thành nghệ thuật Tuồng qua các giai đoạn từ manh nha thời Lý - Trần đến định hình vào thế kỷ XV - XVII và đạt đỉnh cao ở thế kỷ XVIII - XIX (thời kỳ Tuồng Thầy, Tuồng cổ).
  • Phân tích đặc trưng sân khấu Tuồng là loại hình sân khấu tự sự, ước lệ, cách điệu và biểu trưng, lấy nguyên tắc "tả thần", "tả ý" làm trọng tâm thay vì tả thực; mọi hành vi đời sống đều được chắt lọc và mô hình hóa.
  • Xác định cấu trúc biểu diễn Tuồng gồm ba mô hình diễn xuất trung tâm: nói lối, hát tuồng và vũ đạo. Người diễn viên có đa nhiệm vụ trên sân khấu (giáo đầu, dẫn chuyện, gợi mở không gian - thời gian), nhưng nhiệm vụ trọng yếu nhất là xây dựng mô hình nhân vật.
  • Luận giải vai trò của vũ đạo Tuồng: vũ đạo không phải múa minh họa thông thường mà là động tác hình thể gắn bó hữu cơ với tiết tấu lời hát, tuân thủ luật tứ tương (nội ngoại tương quan, tả hữu tương ứng, phì sấu tương chế, thượng hạ tương phù).
  • Thiết lập khung tiếp cận vũ đạo Tuồng từ ký hiệu học: vận dụng mô hình cấu trúc của Saussure (signifier/signified), mô hình tam đoạn của Peirce (representamen/object/interpretant), cấu trúc nghĩa hàm chỉ của Barthes, ký hiệu quyển Lotman và lý thuyết mã của Umberto Eco nhằm cung cấp bộ công cụ giải mã động tác hình thể của diễn viên.

Chương 2: Mô hình nhân vật Tuồng và mã hoá, giải mã mô hình vũ đạo Tuồng

Chương này đi sâu phân tích cấu trúc ký hiệu của các kiểu vai và thiết lập các bảng mã hóa, giải mã:

  • Mô hình nhân vật kép: Phân tích các dạng kép văn, kép võ, kép trung. Khảo sát các bộ vũ đạo chuẩn mực của kép như bước đi chữ đinh, bộ chỉ tay dứt khoát, bộ múa kiếm, bộ lên ngựa, bộ ngắm mũi tên. Xây dựng bảng mã hóa và giải mã mô hình vũ đạo nhân vật kép, chỉ rõ hình thức động tác (cái biểu đạt) mang ý nghĩa biểu thị khí phách hiên ngang, trung quân ái quốc, trật tự luân lý chính thống (cái được biểu đạt).
  • Mô hình nhân vật đào: Phân loại đào thương, đào võ, đào lẳng, đào điên. Khảo sát vũ đạo uyển chuyển, mềm mại của đào thương qua các bộ tay, bước đi lướt nhẹ, tương phản với vũ đạo mạnh mẽ, dứt khoát của đào võ qua bộ múa cờ, bộ múa kiếm, lăn khiên. Xây dựng bảng mã hóa và giải mã mô hình vũ đạo nhân vật đào, làm nổi bật mã giới tính và mã phẩm hạnh đạo đức.
  • Mô hình nhân vật nịnh: Phân tích đặc điểm tạo hình và tâm lý gian giảo, so đo, phản trắc. Khảo sát các động tác vũ đạo mang tính đặc thù: vuốt râu bằng cách tỉa từng sợi, bước chân dấm dúi, co ro, đảo mắt, vai so. Xây dựng bảng mã hóa và giải mã mô hình vũ đạo nhân vật nịnh, chỉ rõ sự quy ước hóa các nét tính cách xấu xa thành các ký hiệu hình thể đối lập hoàn toàn với vai kép.
  • Mô hình nhân vật khác: Khảo sát mô hình nhân vật lão (lão văn, lão võ, lão say) với bước đi run rẩy, chống gậy; nhân vật hề với bước đi lệch tâm, động tác khoa trương gây cười; nhân vật mụ, tiên. Xây dựng các bảng mã hóa và giải mã tương ứng cho từng nhóm nhân vật.

Chương 3: Ứng dụng mã hoá - giải mã vũ đạo Tuồng trong bảo tồn, phát huy và phát triển nghệ thuật Tuồng

Chương này trình bày các giải pháp ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn:

  • Ứng dụng trong bảo tồn: Nhìn nhận hệ thống vũ đạo Tuồng như một hệ thống mã ký hiệu cần được bảo lưu chuẩn hóa; ứng dụng bảng giải mã ký hiệu để phân loại, lưu trữ và số hóa các động tác hình thể; xây dựng phương thức truyền dạy và giáo dục thẩm mỹ truyền thống cho thế hệ trẻ dựa trên việc hiểu mã nghĩa quy ước.
  • Ứng dụng trong phát huy: Hỗ trợ diễn viên và đạo diễn đương đại nắm vững mã vũ đạo để vận dụng vào biểu diễn các vở Tuồng đề tài hiện đại hoặc làm mới các vở truyền thống; ứng dụng mã hình thể Tuồng vào thiết kế mỹ thuật dàn dựng, trang trí không gian sân khấu và giao thoa với các hình thức nghệ thuật biểu diễn hiện đại khác.
  • Ứng dụng trong phát triển: Chuyển đổi từ việc bảo tồn mã tĩnh sang sáng tạo các ký hiệu mới phù hợp bối cảnh đương đại mà không làm mất bản sắc gốc; ứng dụng công nghệ đa phương tiện để phát triển sản phẩm văn hóa số.
  • Thiết lập ba bảng phân tích đối chiếu bảo tồn - phát huy - phát triển vũ đạo Tuồng trên ba vở diễn thực nghiệm của Nhà hát Tuồng Việt Nam:
    1. Bảng phân tích trong vở Sơn Hậu (tập trung vào các bộ vũ đạo của Đổng Kim Lân, Khương Linh Tá, Tạ Ôn Đình).
    2. Bảng phân tích trong vở Võ Tam Tư trảm cáo (tập trung vào vũ đạo của Tiết Giao, Nguyệt Cô).
    3. Bảng phân tích trong vở Nữ tướng Đào Tam Xuân (tập trung vào vũ đạo đào võ của Đào Tam Xuân khi hay tin chồng con bị hại và cảnh xông trận).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Luận án là công trình nghiên cứu sử dụng hệ thống lý thuyết ký hiệu học phương Tây (Saussure, Peirce, Barthes, Lotman, Eco) để tiếp cận, phân tích và giải mã có hệ thống ngôn ngữ vũ đạo của sân khấu Tuồng truyền thống Việt Nam.
  • Xác lập khung lý thuyết soi chiếu vũ đạo Tuồng như một hệ thống ký hiệu kép: vừa là cấu trúc nhị phân cái biểu đạt - cái được biểu đạt, vừa là tiến trình tam diện representamen - object - interpretant, vận hành trong mối quan hệ đa mã (mã biểu diễn, mã văn hóa, mã thẩm mỹ).
  • Làm sáng tỏ cơ chế giao tiếp thẩm mỹ giữa diễn viên, nhân vật và khán giả thông qua việc mã hóa và giải mã các trình thức động tác hình thể ước lệ.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Xây dựng hệ thống các bảng mã hóa và giải mã mô hình vũ đạo cho các tuyến nhân vật tiêu biểu: kép, đào, nịnh, lão, hề; cung cấp một hệ thống phân loại khoa học các bộ vũ đạo truyền thống dựa trên chức năng biểu nghĩa.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy chuyên ngành diễn viên kịch hát dân tộc và đạo diễn sân khấu tại Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội cũng như các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật.
  • Đề xuất khung phân tích và bảng tiêu chí ứng dụng mã vũ đạo phục vụ công tác số hóa, nhận diện động tác hình thể và lưu trữ di sản sân khấu truyền thống trong bối cảnh chuyển đổi số.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Kiến nghị các nhà hát và cơ sở đào tạo chuẩn hóa hệ thống mã vũ đạo Tuồng, xây dựng ngân hàng dữ liệu số hóa các bộ động tác mẫu mực của các nghệ nhân tiền bối nhằm tránh nguy cơ mai một.
  • Đưa các kiến thức giải mã ký hiệu học vũ đạo vào các chương trình giáo dục nghệ thuật truyền thống trong trường học để thế hệ khán giả trẻ tiếp cận và hiểu được ngôn ngữ ước lệ sân khấu Tuồng.
  • Khuyến khích các đạo diễn, biên đạo vận dụng sáng tạo hệ thống ký hiệu vũ đạo truyền thống vào việc dàn dựng các tác phẩm sân khấu đương đại trên nguyên tắc tôn trọng cấu trúc mã gốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Phạm vi khảo sát thực chứng của luận án chủ yếu tập trung vào ba vở diễn kinh điển (Sơn Hậu, Võ Tam Tư trảm cáo, Nữ tướng Đào Tam Xuân) do Nhà hát Tuồng Việt Nam dàn dựng theo phong cách Tuồng Bắc; chưa khảo sát bao quát toàn bộ các biến thể vũ đạo của phong cách Tuồng miền Trung (Tuồng Bình Định, Tuồng Huế) và Tuồng Nam Bộ.
  • Luận án chủ yếu đi sâu vào các nhân vật trong Tuồng Thầy (Tuồng cổ), chưa khảo sát toàn diện hệ thống vũ đạo trong các kịch bản Tuồng Đồ (Tuồng hài) và Tuồng tân thời.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi giải mã ký hiệu học sang các thành tố sân khấu khác trong Tuồng như nghệ thuật vẽ mặt nạ (hóa trang), màu sắc phục trang, đạo cụ sân khấu và hệ thống làn điệu âm nhạc.
  • Tiến hành các nghiên cứu so sánh đối chiếu liên văn hóa về mã vũ đạo giữa Tuồng Việt Nam với các loại hình sân khấu kịch hát truyền thống không ảo giác ở khu vực Đông Á như Kinh kịch (Trung Quốc) và sân khấu kịch Nô (Nhật Bản).

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu sân khấu học: Luận án cung cấp một khung phương pháp luận liên ngành kết hợp giữa nghệ thuật biểu diễn truyền thống và ký hiệu học hiện đại; là tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về thi pháp biểu diễn, lý luận kịch hát dân tộc.
  • Đối với giảng viên và sinh viên chuyên ngành Diễn viên Sân khấu Kịch hát, Đạo diễn Sân khấu: Phần phân tích các mô hình nhân vật và các bảng mã hóa, giải mã vũ đạo ở Chương 2 là tài liệu bổ trợ chuyên môn, giúp người học hiểu rõ tầng nghĩa văn hóa và tính quy ước của từng động tác, tránh việc học vẹt kỹ thuật hình thể.
  • Đối với đạo diễn và diễn viên tại các đơn vị nghệ thuật biểu diễn: Cung cấp cơ sở khoa học để vận dụng các thủ pháp ước lệ, cách điệu vào dàn dựng tác phẩm mới, xử lý không gian và hình thể nhân vật.
  • Đối với các cơ quan quản lý văn hóa và chuyên gia công nghệ số hóa di sản: Nội dung Chương 3 về ứng dụng mã hóa - giải mã cung cấp cơ sở để xây dựng cấu trúc dữ liệu mô tả cho các dự án số hóa động tác múa truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

1. Vũ đạo Tuồng giữ vị trí như thế nào trong nghệ thuật biểu diễn của diễn viên Tuồng truyền thống?
Vũ đạo Tuồng là một trong ba mô hình diễn xuất căn bản (cùng với nói lối và hát tuồng) mà người diễn viên sử dụng để thể hiện nhân vật. Vũ đạo Tuồng không phải là điệu múa thông thường mà là các động tác hình thể được cách điệu hóa, khuếch đại hóa và ước lệ hóa, phối hợp nhịp nhàng với tiết tấu và làn điệu để biểu hiện tính cách, tâm trạng và tác phong của nhân vật.

2. Luận án vận dụng những lý thuyết ký hiệu học nào để giải mã vũ đạo Tuồng?
Luận án vận dụng lý thuyết cấu trúc nhị phân (cái biểu đạt - cái được biểu đạt) của Ferdinand de Saussure; lý thuyết tam diện (representamen - object - interpretant) và phân loại ký hiệu (icon, index, symbol) của Charles Sanders Peirce; lý thuyết nghĩa hàm chỉ và huyền thoại của Roland Barthes; khái niệm ký hiệu quyển của Yuri Lotman; lý thuyết về mã, quá trình tạo nghĩa và tác phẩm mở của Umberto Eco.

3. Phạm vi khảo sát thực chứng của luận án tập trung vào những vở diễn cụ thể nào?
Phạm vi khảo sát thực chứng của đề tài tập trung vào hệ thống mô hình nhân vật và mô hình vũ đạo trong ba vở diễn kinh điển của sân khấu Tuồng truyền thống do Nhà hát Tuồng Việt Nam dàn dựng: Sơn Hậu, Võ Tam Tư trảm cáo và Nữ tướng Đào Tam Xuân.

4. Luận án xây dựng bảng mã hóa và giải mã mô hình vũ đạo cho những loại hình nhân vật nào?
Tại Chương 2, luận án xây dựng hệ thống bảng mã hóa và giải mã vũ đạo cho các mô hình nhân vật: mô hình nhân vật kép (kép văn, kép võ, kép trung); mô hình nhân vật đào (đào thương, đào võ, đào lẳng, đào điên); mô hình nhân vật nịnh; và mô hình các nhân vật khác (lão, mụ, tiên, hề).

5. Ứng dụng của việc giải mã ký hiệu học vũ đạo Tuồng trong công tác bảo tồn di sản được xác định ra sao?
Việc giải mã vũ đạo Tuồng giúp nhìn nhận hệ thống động tác như một bộ mã ký hiệu chuẩn mực. Kết quả này được ứng dụng vào việc thiết lập tiêu chí phân loại, lưu trữ, số hóa dữ liệu hình thể của nghệ thuật Tuồng; đồng thời hỗ trợ công tác giáo dục thẩm mỹ truyền thống cho công chúng trẻ bằng cách cung cấp tri thức để giải mã các quy ước sân khấu.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Vũ đạo Tuồng dưới góc nhìn ký hiệu học" của nghiên cứu sinh Dương Thị Thanh Huyền là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Sân khấu. Bằng việc vận dụng các lý thuyết ký hiệu học của Saussure, Peirce, Barthes, Lotman và Eco, luận án đã phân tích cơ chế tạo nghĩa của ngôn ngữ hình thể và thiết lập hệ thống bảng mã hóa, giải mã mô hình vũ đạo cho các tuyến nhân vật chuẩn mực của sân khấu Tuồng truyền thống. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần bổ khuyết khoảng trống lý luận về biểu diễn sân khấu dân tộc mà còn cung cấp cơ sở khoa học thiết thực phục vụ công tác đào tạo, biểu diễn, lưu trữ số hóa và bảo tồn nghệ thuật Tuồng trong bối cảnh đương đại.