Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ nghệ thuật Sự thể hiện trang phục thời Lê - Trịnh trên sân khấu Việt Nam hiện nay của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hà, chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Sân khấu (mã số: 62 21 02 21), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Lâm Biền tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam năm 2016.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng sân khấu Việt Nam đã dàn dựng nhiều tác phẩm về đề tài lịch sử, đặc biệt nở rộ trong dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Tuy nhiên, khâu tạo hình trang phục biểu diễn còn bộc lộ nhiều hạn chế về tính lịch sử và thẩm mỹ, làm giảm sức thuyết phục đối với công chúng. Trong cơ cấu thành phần sáng tạo của các đơn vị biểu diễn nghệ thuật, chức danh họa sĩ thiết kế trang phục biểu diễn riêng biệt hầu như vắng bóng, thường do họa sĩ thiết kế mỹ thuật hoặc nhà thiết kế thời trang kiêm nhiệm. Mặc dù từ năm 2001, Khoa Thiết kế Mỹ thuật thuộc Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội đã đào tạo chuyên ngành này, nhưng vị trí họa sĩ phục trang sân khấu chỉ mới được ghi nhận chính thức qua Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/10/2010 và Nghị định số 89/2014/NĐ-CP về xét tặng Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú. Thực trạng sàn diễn cho thấy trang phục các triều đại thường bị rập khuôn: nhân vật nam như Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Thủ Độ có cách ăn vận tương tự nhau; nhân vật nữ từ Thái hậu Dương Vân Nga, Lý Chiêu Hoàng đến Nguyên phi Ỷ Lan, Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung đều đội khăn vành dây to bản nhiều lớp (vốn là dạng thức xuất hiện muộn từ thời Hoàng hậu Nam Phương triều Nguyễn).
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định mối quan hệ giữa trang phục thời Lê - Trịnh qua di sản vật thể và sự thể hiện trên sân khấu Việt Nam hiện nay, tập trung vào hình tượng các nhân vật lịch sử cùng thời. Luận án tiến hành giải mã, hệ thống hóa các yếu tố: hình thức và kết cấu, hệ thống họa tiết trang trí, cùng phong cách của trang phục.
Các câu hỏi nghiên cứu được tác giả xác định gồm:
- Khi tư liệu thành văn và đồ họa cổ khuyết thiếu, có con đường nào giúp người nghiên cứu tìm lại diện mạo trang phục truyền thống Việt đã từng tồn tại trong lịch sử?
- Bên cạnh phương thức bảo tồn tĩnh trong bảo tàng và sưu tập, việc bảo tồn động thông qua trang phục biểu diễn sân khấu trong các vở diễn đề tài lịch sử được thực hiện như thế nào?
- Từ vốn cổ trang phục truyền thống, qua quá trình sáng tạo của nghệ sĩ sân khấu, những yếu tố nào cần được bảo tồn, những yếu tố nào cần được kế thừa và phát huy?
- Từ góc nhìn bản sắc văn hóa truyền thống đến văn hóa đương đại, những vấn đề nào trong trang phục biểu diễn cần được nghiên cứu, phân tích và đánh giá để giải mã các chỉ dấu người xưa để lại?
Giả thuyết khoa học của luận án: Trang phục là sự kết tinh văn hóa từ lao động và đời sống xã hội. Dù chất liệu vải dễ bị hủy hoại bởi thời gian và khí hậu nhiệt đới ẩm, các di sản vật thể bền vững khác—đặc biệt là bia đá với niên đại tuyệt đối và hệ thống tượng thờ—cung cấp những chỉ dấu xác thực về tạo hình, hoa văn để dựng lại diện mạo trang phục cổ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Trang phục thời Lê - Trịnh qua di sản văn hóa vật thể (tượng thờ, tượng người hầu, di vật vải khai quật, phù điêu đình làng, văn bia) và trang phục thời Lê - Trịnh thể hiện trên sân khấu Việt Nam hiện nay (chèo, tuồng, kịch nói).
- Phạm vi không gian và thời gian: Khảo sát hiện vật tập trung vào thế kỷ XVII tại các di tích tiêu biểu như chùa Mật Sơn (Thanh Hóa), chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Sổ, Bối Khê, An Khoái (Hà Nội); lăng mộ Lam Kinh, lăng Phúc Khê Tướng công Nguyễn Văn Nghi, lăng Đăng Quận công Nguyễn Khải, lăng Mãn Quận công Lê Trung Nghĩa (Thanh Hóa), lăng Dĩnh Quận công Phạm Huy Đĩnh (Thái Bình), lăng họ Ngọ, lăng Dinh Hương (Bắc Giang), lăng Vũ Hồng Lượng (Hưng Yên); đối chiếu với di vật lăng vua triều Nguyễn (Huế) và hệ thống bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội). Về sân khấu, phạm vi khảo cứu tập trung vào các vở diễn từ năm 1995 (mốc Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc sau 10 năm Đổi mới) đến năm 2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả phân tích các nguồn tư liệu lịch sử thành văn và các công trình nghiên cứu hiện đại, chỉ ra những ưu điểm cùng khoảng trống tư liệu:
Nguồn sử liệu và thư tịch phong kiến:
- Chính sử triều đình gồm Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tiền biên, Đại Việt sử ký tục biên chủ yếu ghi chép biến cố chính trị, biên niên sự kiện và công đức của vua chúa, rất ít mô tả chi tiết hình dáng, kết cấu y phục.
- Các bộ hội điển, pháp điển và địa chí: Lê triều hội điển, Quốc triều chiếu lệnh thiện chính (ghi chép pháp lệnh thế kỷ XVII, đặc biệt là lệnh năm Vĩnh Thọ thứ 4 - 1661 quy định phẩm phục quan văn võ khi dự Nghi lễ thị triều ở cung vua khác với khi vào chầu phủ chúa), Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (phần Lễ nghi chí), Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long năm 1813 quy định phẩm phục đại triều, thường triều và y phục thứ dân), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (quyển 78 quy định tỉ mỉ mũ áo hoàng đế và quan lại).
- Tác phẩm ghi chép của các danh nho, học giả: An Nam chí lược của Lê Tắc (phần Chương phục chép về trang phục vua quan thời Trần), Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn (dẫn lại Sứ Giao châu thi tập của Trần Cương Trung mô tả tục cạo đầu, mặc áo thâm thời Trần), Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (phần Áo mặc ghi nhận các sắc áo thanh cát như hỏa minh, vi minh, quỳ sắc), Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, và Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác.
- Các khảo cứu đầu thế kỷ XX: Việt sử yếu của Hoàng Cao Khải (1914), Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (1921), Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh (1938); công trình Kỹ thuật của người An Nam (1908 - 1909) của Henri Oger gồm 4.577 bản khắc; tập san Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH, 1914 - 1944) với bài khảo cứu năm 1916 của Nguyễn Đôn kèm bản vẽ của họa sĩ Tôn Thất Sa.
Các công trình nghiên cứu hiện đại (sau năm 1945):
- Nghiên cứu chuyên sâu về trang phục: PGS. NSƯT Đoàn Thị Tình với Trang phục Việt Nam (dân tộc Việt) và Trang phục Thăng Long - Hà Nội; nhà nghiên cứu Trịnh Quang Vũ với Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến Việt Nam và Trang phục triều Lê - Trịnh (công trình tập trung khảo sát trang phục thế kỷ XVII nhưng một số bản vẽ chưa đồng đều về mặt tạo hình mỹ thuật); ấn phẩm chuyên đề đồ dệt của Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế (tập V).
- Các nghiên cứu liên ngành liên quan: GS. Trần Quốc Vượng, Nguyễn Từ Chi, Chu Quang Trứ, Trần Lâm Biền, Hà Văn Tấn; tác giả Ngô Đức Thịnh (Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam), Cung Dương Hằng (Mỹ thuật nữ phục truyền thống Việt Nam), Phan Cẩm Thượng (Văn minh vật chất của người Việt - chương 26 về "Tấm áo manh quần"), Trần Quang Đức, Trịnh Bách.
Khoảng trống học thuật: Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở khảo tả lịch sử đơn thuần, trích dẫn văn bản hoặc giới thiệu hiện vật rời rạc; chưa có công trình nào đối chiếu trực tiếp giữa di sản vật thể thời Lê - Trịnh thế kỷ XVII với thực tiễn sáng tạo trang phục trong ba loại hình sân khấu tuồng, chèo và kịch nói hiện đại, nhằm hình thành cơ sở phương pháp luận cho việc thiết kế tạo hình nhân vật lịch sử.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu sau:
Cơ sở lý thuyết:
- Luận điểm về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể trong xã hội Việt Nam đương đại, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII và Luật Di sản Văn hóa năm 2001, dựa trên các nghiên cứu nhân học, dân tộc học và mỹ thuật truyền thống.
- Luận điểm về sáng tạo nghệ thuật có tính khoa học trong nghệ thuật sân khấu đương đại, kế thừa quan điểm của các nhà nghiên cứu và nghệ sĩ sân khấu: Đình Quang, Nguyễn Đình Nghi, Nguyễn Đình Hàm, Hoàng Chương, Trần Trí Trắc, Trần Đình Ngôn, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Thị Minh Thái.
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: đặt đối tượng nghiên cứu trong bối cảnh thời gian lịch sử và không gian sinh tồn của văn hóa dân tộc.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp điền dã, khảo tả: Trực tiếp khảo sát hiện vật tượng người, đồ chạm khắc tại các di tích lịch sử - văn hóa; thu thập mẫu trang phục cổ khai quật (mộ vua Lê Dụ Tông, mộ bà Phạm Thị Nguyên Chân, đền thờ Nguyễn Văn Nghi); ghi chép, khảo tả trang phục và bản phác thảo thiết kế tại các đơn vị nghệ thuật sân khấu chuyên nghiệp.
- Phương pháp xử lý tư liệu bằng công nghệ: Sử dụng phần mềm đồ họa Corel Draw để tiến hành đạc họa hiện trạng di vật, tái tạo chính xác các đồ án trang trí và họa tiết hoa văn trên trang phục và bia đá, cung cấp dữ liệu đối chiếu khoa học.
- Phương pháp liên ngành văn hóa học: Phối hợp tri thức của các chuyên ngành dân tộc học, khảo cổ học, xã hội học nghệ thuật, mỹ thuật học và sân khấu học.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Xây dựng hệ thống bảng biểu so sánh đặc trưng hình thức, màu sắc, chất liệu giữa các thể loại sân khấu; so sánh đồ án hoa văn trên văn bia với hoa văn thêu dệt trên trang phục hoàng tộc.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đánh giá quá trình vận động, tiếp biến của trang phục thời Lê - Trịnh và thực trạng trang phục biểu diễn hiện nay.
- Phương pháp đồng đại và lịch đại: Đặt trang phục thế kỷ XVII trong mối tương quan với các thời kỳ Lý, Trần, Lê sơ, Nguyễn và trong bối cảnh phân định quyền lực vua Lê - chúa Trịnh.
Nguồn tư liệu, dữ liệu thực tế gồm: 7 nhóm di sản vật thể (phù điêu đình làng, tượng thờ, tranh dân gian, trang phục khai quật mộ cổ, tranh thương nhân phương Tây, ảnh chụp cuối thế kỷ XIX, ghi chép của người nước ngoài); hệ thống văn bia lăng mộ và Văn Miếu; các bản thiết kế phục trang và trang phục biểu diễn thực tế tại các nhà hát chèo, tuồng, kịch nói từ năm 1995 đến năm 2016.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và tình hình nghiên cứu
Chương này trình bày bối cảnh lịch sử của nghệ thuật sân khấu Việt Nam, phân tích mối quan hệ giữa sân khấu với đề tài lịch sử và các đặc trưng thẩm mỹ của trang phục biểu diễn. Tác giả chỉ ra rằng trong quá khứ, do lề luật Nho giáo hà khắc, chèo truyền thống thường tránh né đề tài cung đình, còn tuồng chủ yếu khai thác các tích truyện nước ngoài ("tuồng tích Tàu"). Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và đặc biệt từ thời kỳ Đổi mới, sân khấu cách mạng đã đưa các nhân vật lịch sử dân tộc lên sàn diễn.
Luận án phân tích sự khác biệt về bản chất giữa trang phục đời thực, trang phục điện ảnh và trang phục sân khấu. Trong khi điện ảnh sử dụng nhiều cỡ cảnh (toàn cảnh, trung cảnh, cận cảnh, đặc tả) đòi hỏi sự xác thực đến từng chi tiết nhỏ, sân khấu nhìn từ khoảng cách xa đòi hỏi tính khái quát, ước lệ và tượng trưng cao hơn; màu sắc trang phục sân khấu phải tươi tắn, độ tương phản rõ rệt để khán giả ở hàng ghế xa nhất vẫn nhận biết được tính cách và vị thế nhân vật.
Tác giả phân tích bảng ý nghĩa tượng trưng của màu sắc trên sân khấu (đỏ: tráng liệt, kích thích; vàng: quang minh, cao quý; vàng tươi: hoạt bát, giàu có; xanh lục: bình tĩnh, êm ả; xanh lam: thâm trầm, trang trọng; tím: u uất, đố kỵ; trắng: thuần khiết; đen: hà khắc, nặng nề, tử vong) và ba nguyên tắc hòa sắc cơ bản của họa sĩ thiết kế: tương phản, tương đồng và hài hòa.
Luận án tổng hợp hai bảng so sánh đặc trưng trang phục sân khấu:
| Tiêu chí |
Trang phục sân khấu kịch hát truyền thống |
Trang phục sân khấu kịch hát hiện đại mang đề tài lịch sử |
| Mức độ thể hiện |
Khái quát hóa, tính ước lệ cao. |
Cụ thể hóa, coi trọng tính chân thực lịch sử. |
| Mục đích xã hội |
Phục vụ xã hội truyền thống, chú trọng quy ước lề luật cổ truyền. |
Phục vụ khán giả hiện đại, coi trọng sáng tạo cá nhân và thể nghiệm. |
| Yếu tố biểu diễn |
Chú trọng nghệ thuật biểu diễn, động tác vũ đạo cách điệu cao. |
Chú trọng phần nhìn, ấn tượng thị giác là chính. |
| Tạo hình nhân vật |
Nhân vật có tính cách định hình, khuôn mẫu, nguyên tắc chặt chẽ. |
Nhân vật có cá tính riêng, trang phục sáng tạo theo tính cách cụ thể. |
| Chất liệu và màu sắc |
Chất liệu truyền thống (vải mộc, lụa, vân, sa, đũi...); màu sắc dân gian, tuân thủ điển chế phong kiến, dùng màu mạnh/gốc. |
Phối hợp chất liệu truyền thống và hiện đại; màu sắc kế thừa truyền thống kết hợp dấu ấn sáng tạo riêng của họa sĩ. |
Bảng so sánh đặc trưng trang phục giữa ba thể loại sân khấu:
| Thể loại |
Hình thức |
Màu sắc |
Họa tiết trang trí |
Chất liệu |
Hiệu quả thị giác |
| Tuồng |
Khái quát hóa, chắc khỏe, vững chãi, cô đọng; cách điệu mạnh mẽ; mô phỏng trang phục tầng lớp cao nhất (vua, quan). |
Tương phản mạnh mẽ, dùng gam nóng, chắc khỏe; các màu chính: xanh, đỏ, vàng, đen, trắng; ít màu dân gian. |
Linh vật quý (long, ly, quy, phượng), hoa mẫu đơn, lan, cúc, mây sóng cách điệu mạnh, nét dứt khoát, cầu kỳ, tính biểu tượng cao. |
Cứng, khỏe, dày dặn (nhung, gấm, vóc...); giả đồng, giả vàng, giả bạc tạo vẻ sang quý. |
Ấn tượng mạnh mẽ, tính tưởng tượng cao hơn mức hiện thực; tạo sự gián cách rõ ràng giữa người xem và diễn viên. |
| Chèo |
Khái quát hóa, mềm mại, duyên dáng, gần đời sống; tính cách điệu vừa phải; mô phỏng tầng lớp trung lưu và bình dân. |
Tươi sáng, rực rỡ nhưng hồn nhiên, mộc mạc; gam ngũ sắc dân gian (cánh sen, vàng chanh, hồ thủy, hoa lý, đen hạt na, nâu sồng, gụ). |
Mẫu hoa lá, linh vật dân gian ước lệ đơn giản, dễ nhận biết; bút pháp nhẹ nhàng, mềm mại, hài hòa. |
Vải mộc, lụa, đũi, the, vân, sa, nhiễu... mang tính chất truyền thống. |
Ấn tượng mộc mạc, tươi sáng, trong trẻo; cuộc đời được mỹ lệ hóa ở mức gần gũi hiện thực, tạo giao cảm hài hòa với người xem. |
| Kịch nói |
Cụ thể hóa, gần với hiện thực; tính ước lệ không mạnh mẽ; thể hiện hầu hết mọi tầng lớp trong xã hội. |
Cụ thể hóa, điển hình hóa hiện thực; kế thừa màu sắc truyền thống nhưng biểu đạt hiện thực, độ tương phản không bạo liệt. |
Vận dụng môtip dân gian quen thuộc nhưng chắt lọc, điển hình hóa; cách thể hiện chân thực. |
Phối hợp chất liệu truyền thống với chất liệu công nghiệp hiện đại. |
Ấn tượng chân thực, gần sát cuộc sống đời thường; tạo mối đồng cảm trực tiếp với người xem. |
Chương này cũng phân tích tình trạng thiếu tư liệu lịch sử, nêu rõ sự cố của bộ phim truyền hình 19 tập Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long (sản xuất nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long, do quay tại nước ngoài nên vi phạm nghiêm trọng tính chân thực lịch sử về trang phục, bối cảnh, dẫn đến việc bị dừng phát sóng trên VTV) như một bài học thực tiễn về sự thiếu hụt nghiên cứu trang phục truyền thống.
Chương 2: Trang phục thời Lê - Trịnh qua di sản vật thể và trang phục thời Lê - Trịnh trong một số vở diễn về đề tài lịch sử
Nội dung chương tập trung khảo cứu hai hệ thống dữ liệu:
- Khảo sát di sản vật thể thời Lê - Trịnh thế kỷ XVII: Luận án phân tích trang phục thể hiện trên tượng thờ người thật tại các di tích, nổi bật là cụm tượng vua Lê Thần Tông và sáu bà hoàng tại chùa Mật Sơn (Thanh Hóa), tượng hoàng tộc Lê - Trịnh (trong đó có tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc) tại chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), hệ thống tượng hậu Phật tại chùa Sổ, Bối Khê, An Khoái. Bên cạnh đó là hệ thống tượng người hầu, lính canh bằng đá tại lăng Lam Kinh, lăng Phúc Khê Tướng công Nguyễn Văn Nghi, Đăng Quận công Nguyễn Khải, Mãn Quận công Lê Trung Nghĩa, Dĩnh Quận công Phạm Huy Đĩnh, lăng họ Ngọ, lăng Dinh Hương. Tác giả khảo cứu di vật áo Hoàng bào khai quật từ mộ vua Lê Dụ Tông, di vật vải tại mộ bà Phạm Thị Nguyên Chân, đối chiếu với trang phục cung đình triều Nguyễn được bảo tồn tại Huế.
- Phân tích đồ án hoa văn trên văn bia: Nhằm chứng minh giả thuyết khoa học, tác giả lập các bảng so sánh hoa văn rồng, phượng, hoa lá, mây lửa trên bia đá với hoa văn thêu dệt trên trang phục hoàng tộc và công thần thời Lê - Trịnh:
- Bảng 3: Danh sách các đời vua Lê, chúa Trịnh và chúa Nguyễn thế kỷ XVII.
- Bảng 4: Đặc trưng nghệ thuật hệ thống tượng thờ trong di tích.
- Bảng 5: So sánh hệ thống họa tiết trang trí trên bia lăng vua và Long bào Hoàng đế triều Nguyễn (thế kỷ XIX - XX).
- Bảng 6: So sánh hệ thống họa tiết trang trí trên bia lăng vua thời Lê sơ và Hoàng bào vua Lê Dụ Tông (thế kỷ XVI - XVII).
- Bảng 7: So sánh họa tiết trên bia lăng công thần thời Lê - Trịnh và bia Tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội (thế kỷ XVII).
- Khảo sát thực tế trên sân khấu từ 1995: Tác giả thống kê, phân tích trang phục của nhân vật vua, chúa, quan lại, binh lính và nhân dân trong các vở diễn chèo, tuồng, kịch nói có bối cảnh thời Lê - Trịnh; so sánh bản vẽ phác thảo mỹ thuật với phục trang may thực tế trên sàn diễn, ghi nhận sự tùy tiện trong việc phối màu, sử dụng hoa văn lai tạp và việc dùng chất liệu công nghiệp thiếu chọn lọc.
Chương 3: Di sản trang phục truyền thống Việt trong mối quan hệ với nghệ thuật sân khấu
Chương 3 triển khai ba nội dung mang tính lý luận và thực tiễn chuyên ngành:
- Di sản trang phục trong sự sáng tạo của nghệ thuật sân khấu: Luận án khẳng định nguyên tắc "Dĩ cổ vi kim" (lấy xưa phục vụ nay). Sáng tạo trang phục sân khấu không phải là sao chép nguyên xi lịch sử (phục cổ tuyệt đối) mà là quá trình cách điệu hóa, thẩm mỹ hóa dựa trên nền tảng tri thức lịch sử và đặc trưng ước lệ của từng thể loại kịch hát hay kịch nói.
- Những vấn đề đặt ra từ trang phục của vở diễn về đề tài lịch sử: Phân tích khoảng cách giữa thiết kế thời trang ứng dụng và thiết kế trang phục sân khấu; phê phán xu hướng đưa các nhà thiết kế thời trang sang làm trang phục sân khấu lịch sử mà không nắm vững ngôn ngữ tạo hình sân khấu và đặc điểm chuyển động của diễn viên; chỉ ra sự thiếu hụt vị trí họa sĩ phục trang chuyên trách trong biên chế nhà hát.
- Bảo tồn, kế thừa và phát huy di sản trang phục truyền thống Việt trong nghệ thuật sân khấu: Đề xuất phương pháp chuyển hóa các họa tiết, kiểu dáng từ di sản vật thể (bia đá, tượng thờ, phù điêu) thành các đồ án trang phục biểu diễn; đề xuất định hướng "bảo tồn động" di sản trang phục thông qua sân khấu; kiến nghị các giải pháp đào tạo chuyên ngành Thiết kế Trang phục Nghệ thuật tại các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:
Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa di sản trang phục cổ truyền dân tộc và nghệ thuật tạo hình sân khấu đương đại.
- Xác lập khái niệm và phương thức "bảo tồn động" di sản văn hóa vật thể thông qua nghệ thuật biểu diễn sân khấu về đề tài lịch sử.
- Đề xuất và kiểm chứng phương pháp luận tiếp cận trang phục cổ thông qua các chỉ dấu mỹ thuật trên các di sản vật thể bền vững ngoài đồ vải (đặc biệt là đồ án trang trí trên bia đá và tượng thờ trong di tích).
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Khảo sát, mô tả và ứng dụng phần mềm Corel Draw đạc họa lại hệ thống hoa văn, họa tiết trang phục thời Lê - Trịnh thế kỷ XVII từ tượng thờ, bia đá và hiện vật khảo cổ.
- Xây dựng hệ thống bảng biểu so sánh đặc trưng tạo hình, màu sắc, họa tiết, chất liệu giữa ba thể loại nghệ thuật: tuồng, chèo và kịch nói.
- Đánh giá thực trạng khâu thiết kế trang phục lịch sử trên sân khấu Việt Nam từ năm 1995 đến 2016, chỉ rõ nguyên nhân của các sai lệch thẩm mỹ và lịch sử.
- Đề xuất giải pháp khắc phục sự thiếu hụt nhân lực thông qua đào tạo chuyên sâu và khẳng định vị trí độc lập của họa sĩ thiết kế trang phục trong cơ cấu sáng tạo vở diễn nghệ thuật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Nguồn tư liệu hiện vật gốc bằng chất liệu vải thời Lê - Trịnh còn lại rất hiếm hoi do khí hậu nhiệt đới ẩm và chiến tranh; nguồn sử tịch thành văn chép về trang phục quá sơ lược, thiếu hình ảnh đồ họa trực quan.
- Do giới hạn năng lực và phạm vi đề tài, luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu trang phục tầng lớp trên (vua chúa, hoàng tộc, quan lại, công thần) trong thế kỷ XVII, chưa thể bao quát toàn diện trang phục của mọi tầng lớp thứ dân trong xã hội phong kiến.
- Việc khảo sát mới dừng ở một số di tích tiêu biểu tại miền Bắc và miền Trung, chưa thể bao quát toàn bộ hệ thống di tích có chỉ dấu trang phục trên phạm vi cả nước.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo cứu trang phục dân gian qua các thời kỳ lịch sử khác như thời Lý, Trần, Lê sơ và Tây Sơn.
- Tiếp tục số hóa, đạc họa các đồ án hoa văn trên các hiện vật khảo cổ học mới phát lộ để bổ sung vào ngân hàng dữ liệu mỹ thuật trang phục truyền thống phục vụ điện ảnh và sân khấu.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị ứng dụng đối với các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, sinh viên và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Sân khấu, Thiết kế Mỹ thuật Sân khấu, Thiết kế Mỹ thuật Điện ảnh, Thiết kế Trang phục Nghệ thuật: cung cấp phương pháp luận nghiên cứu liên ngành, hệ thống tư liệu đạc họa hoa văn và bảng phân tích đặc trưng thể loại.
- Các đạo diễn, họa sĩ thiết kế mỹ thuật, họa sĩ phục trang và diễn viên tại các đơn vị nghệ thuật biểu diễn (nhà hát tuồng, chèo, kịch nói): cung cấp căn cứ tạo hình lịch sử cụ thể để xây dựng trang phục nhân vật thời Lê - Trịnh, tránh tình trạng rập khuôn hoặc sao chép trang phục nước ngoài.
- Các nhà quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: cung cấp cứ liệu thực tiễn để hoàn thiện chế độ, định biên chức danh họa sĩ phục trang tại các đơn vị nghệ thuật biểu diễn theo tinh thần các nghị định của Chính phủ.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao sử liệu thành văn thời phong kiến Việt Nam ghi chép rất ít về hình dáng trang phục?
Các nhà chép sử phong kiến (Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí) quan niệm lịch sử chủ yếu là ghi chép chính trị, sự kiện triều đại và công đức của nhà vua, ít chú trọng phong tục đời sống sinh hoạt. Ngoài ra, trải qua chiến tranh và các thời kỳ ngoại xâm (như lệnh thiêu hủy sách vở văn hóa của nhà Minh năm 1406 - 1407), nhiều thư tịch cổ đã bị hủy hoại. Phụ nữ cũng chịu ràng buộc khắt khe của lễ giáo Nho giáo nên hầu như không được miêu tả trang phục trong chính sử.
2. Luận án giải quyết tình trạng thiếu hụt hiện vật trang phục bằng chất liệu vải bằng cách nào?
Tác giả đề xuất giả thuyết khoa học sử dụng các di sản vật thể bền vững khác mang tính hiện thực và có niên đại tuyệt đối, tiêu biểu là hệ thống bia đá thời Lê sơ, Lê - Trịnh, bia Tiến sĩ Văn Miếu và hệ thống tượng thờ, tượng người hầu tại các di tích (chùa Mật Sơn, chùa Bút Tháp, các lăng mộ quận công) kết hợp ứng dụng phần mềm Corel Draw để đạc họa, giải mã hoa văn trang trí làm căn cứ phục dựng kiểu dáng trang phục.
3. Sự khác nhau căn bản giữa trang phục sân khấu tuồng và chèo được luận án phân định thế nào?
Trang phục tuồng mang tính khái quát, chắc khỏe, cách điệu mạnh mẽ, mô phỏng trang phục tầng lớp cao nhất (vua, quan) với màu sắc tương phản mạnh (xanh, đỏ, vàng, đen, trắng), chất liệu dày dặn (gấm, vóc, nhung) và họa tiết linh vật quý (long, ly, quy, phượng). Ngược lại, trang phục chèo mang nét mềm mại, gần gũi đời sống, mô phỏng tầng lớp trung lưu và bình dân với gam màu ngũ sắc dân gian tươi sáng (cánh sen, hoa lý, nâu sồng, đen hạt na) trên nền chất liệu truyền thống (vải mộc, lụa, đũi, the).
4. Bất cập lớn nhất về nhân lực thiết kế trang phục sân khấu lịch sử tại Việt Nam là gì?
Trong cơ cấu định biên của các đơn vị nghệ thuật biểu diễn thường không có vị trí họa sĩ phục trang chuyên trách; công việc này thường bị gộp chung vào họa sĩ thiết kế mỹ thuật hoặc thuê các nhà thiết kế thời trang. Do thiết kế thời trang khác biệt căn bản với yêu cầu tạo hình nhân vật sân khấu lịch sử, trang phục tạo ra thường thiếu tính lịch sử, thiếu sự phân định thời đại hoặc cản trở động tác biểu diễn của diễn viên. Vị trí này chỉ mới được định danh pháp lý chính thức từ Nghị định số 42/2010/NĐ-CP và Nghị định số 89/2014/NĐ-CP.
5. Lệnh về phẩm phục ban bố năm Vĩnh Thọ thứ 4 (1661) thời vua Lê Thần Tông ghi nhận quy định gì đối với hàng công tước ban võ?
Theo Quốc triều chiếu lệnh thiện chính, hàng công tước ban võ khi dự Nghi lễ thị triều (vào chầu cung vua) phải đội mũ Dương đường có hai cánh cong mạ vàng phía sau, mặc triều phục sắc tía, bổ tử dệt kỳ lân chỉ vàng, thắt đai đá quý bịt vàng, mang giày và tất. Khi vào hầu trong phủ chúa, người này dùng mũ ô sa may nổi chỉ đen, mặc áo thanh cát có che phía sau, thắt dây thao kép xâu ngọc trang trí vàng.
Kết luận
Luận án Sự thể hiện trang phục thời Lê - Trịnh trên sân khấu Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà là công trình chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Sân khấu, giải quyết mối quan hệ giữa di sản trang phục truyền thống thế kỷ XVII và thực tiễn tạo hình trang phục biểu diễn đương đại. Bằng việc kết hợp phương pháp liên ngành văn hóa học với kỹ thuật đạc họa vi tính trên hệ thống di sản vật thể (tượng thờ, văn bia, di vật mộ táng), tác giả đã hệ thống hóa diện mạo trang phục thời Lê - Trịnh và đối chiếu với thực trạng sân khấu từ năm 1995 đến năm 2016. Luận án cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và bảng biểu so sánh cụ thể, đóng góp cơ sở lý luận cho công tác bảo tồn động di sản văn hóa và nâng cao tính chân thực lịch sử, thẩm mỹ cho nghệ thuật sân khấu Việt Nam.