Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nghệ thuật sân khấu với đề tài lịch sử Nghệ thuật sân khấu truyền thống Việt Nam đã được hình thành và phát triển trong dòng chảy lịch sử của toàn dân tộc. Từ trong lịch sử đầy đau thương mà quả cảm, bất khuất của con người Việt Nam đã hun đúc nên hình hài, sắc thái, kết tinh nên hồn Việt của sân khấu cổ truyền.Với một bề dày của quá trình hình thành và phát triển như vậy, sự gắn bó giữa sân khấu và lịch sử là một vấn đề mang tính quy luật biện chứng. Lịch sử luôn là nguồn đề tài vô tận và mới mẻ của sự sáng tạo văn học nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật sân khấu.
Điều này không phải là đặc điểm riêng của sân khấu nước ta, nhưng do tính chất lịch sử của dân tộc, mà đề tài lịch sử trong nghệ thuật sân khấu có những nét đặc thù. Trong quá khứ, do sự hà khắc của chế độ phong kiến, với những luật lệ ngặt nghèo theo đạo đức Nho giáo, cùng những kỵ, huý riêng của từng triều đại nên sân khấu chèo thường “tránh né” chuyện cung đình, sân khấu tuồng lại nặng về “tuồng tích Tàu”, ít tích lịch sử dân tộc. Cách mạng Tháng Tám lịch sử đã tạo nên một bước ngoặt cho sự phát triển của nền sân khấu dân tộc: vừa bảo tồn, kế thừa những tinh hoa nghệ thuật của cha ông, vừa phát huy, sáng tạo những giá trị nghệ thuật mới. Sân khấu nghệ thuật tuồng, chèo có một lợi thế rất lớn khi dàn dựng đề tài mang tính lịch sử bởi bề dày truyền thống cũng như hình thức nghệ thuật cổ truyền độc đáo, rất phù hợp.
Với vận hội mới của đất nước, sự ra đời của sân khấu cách mạng, các hình thức nghệ thuật truyền thống đã có thêm nội lực để chuyển tải những nội dung mới trong đó lịch sử là một nội dung quan trọng. Sân khấu kịch nói theo chân người Pháp du nhập cũng đã hoà nhập với văn hoá Việt Nam, tạo nên một hình thức nghệ thuật sân khấu mới, có sức thu hút đông đảo người xem. Việt Nam là một dân tộc có bản sắc văn hoá lâu đời, nhưng không phải một nền văn hoá đóng kín, mà là một nền văn hoá mở. Trong từng chặng đường lịch sử nhất 18 định, sân khấu Việt Nam lại tiếp nhận được những yếu tố mới để nâng cao và làm giàu cho bản sắc văn hoá nghệ thuật của dân tộc mình.
Qua nhiều thập kỷ, kể từ mùa thu 1945, sân khấu Việt Nam hiện đại đã có một hệ thống tác phẩm sân khấu về đề tài lịch sử, được dàn dựng trong hầu hết các thể loại như chèo, tuồng, cải lương, kịch nói, kịch dân ca…Các tác phẩm tái hiện lịch sử đất nước từ thời Hùng Vương dựng nước tới Hai Bà Trưng, Bà Triệu chống giặc ngoại xâm; Ngô Quyền khôi phục nền độc lập tự chủ của quốc gia, tới các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần; chiến thắng quân Minh lẫy lừng của Lê Lợi cùng Bình Ngô đại cáo bất hủ của Nguyễn Trãi; hình tượng người anh hùng áo vải Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến dịch thần tốc đại thắng quân Thanh; triều Nguyễn với sự thống nhất bờ cõi từ Bắc tới Nam của non sông Việt Nam, nỗi đau mất nước…Nhiều tác phẩm đã đạt những thành tựu xuất sắc, để lại những dấu ấn khó phai mờ qua nhiều thế hệ khán giả. Phần lớn những vở diễn có đề tài lịch sử đều mang tính chất sử thi, có sức hấp dẫn với người xem với sự tái hiện hình tượng các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hóa nhằm ca ngợi truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, ca ngợi tinh thần kiên cường bất khuất, tấm lòng yêu nước thương dân và tinh thần nhân đạo chủ nghĩa của các bậc tiền nhân. Tuy khai thác đề tài lịch sử, nhưng các vở diễn đều đưa ra những thông điệp tư tưởng mang tính thời sự. Vì vậy, nó đã có tác động tích cực, hiệu quả trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, thống nhất đất nước và công cuộc đổi mới, xây dựng thành công đất nước trong thời đại mới.
Những đóng góp của nghệ thuật sân khấu qua các vở diễn mang đề tài lịch sử đã được Đảng, Nhà nước và công chúng ghi nhận. Sân khấu là nghệ thuật tổng hợp. Mỗi vở diễn mang đề tài lịch sử được dàn dựng nghiêm túc về nội dung, hấp dẫn về hình thức biểu hiện sẽ là một bài học sống động về văn chương, phong tục, ngôn ngữ, thẩm mỹ… qua từng chặng đường lịch sử. Các vở diễn về đề tài lịch sử được tạo điều kiện đến với khán giả rộng rãi, sẽ góp phần: - Giáo dục tri thức lịch sử.
- Giáo dục văn hoá truyền thống. - Rút ra những bài học cho thời hiện tại. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, luận án đề cập tới vấn đề trang phục một số nhân vật trong các vở diễn về đề tài lịch sử trong thời gian qua, tập trung vào những vở diễn tái hiện lại bối cảnh xã hội thời Lê - Trịnh. Trang phục truyền thống Việt trong sự thể hiện trên sân khấu Việt Nam 1.
Trang phục sân khấu truyền thống Dưới thời phong kiến, do ít có điều kiện để lưu giữ những hình ảnh cụ thể về một vở diễn, dù là dân gian hay cung đình. Do vậy, ngày nay, chúng ta chỉ còn nhìn thấy được những hình ảnh quý giá ấy qua một số ảnh chụp hiếm hoi hay bản vẽ, tranh khắc gỗ ít ỏi có được từ thế kỷ XVII. Thời gian trước đó nữa ta chỉ được biết qua vài dòng văn bản cổ có đề cập tới nghệ thuật sân khấu. Qua những hình vẽ cảnh diễn tuồng dân gian những năm cuối thế kỷ XVIII , hầu hết các loại trang phục đều đơn sơ, kể cả võ phục, ngay những bộ xiêm y của ba nữ diễn viên đang múa cũng giản đơn.
Trong bức ảnh chụp, các diễn viên cung đình cuối thế kỷ XIX cũng cho thấy hình thức trang trí rất giản dị, các diễn viên đều đi chân đất. Trang phục sân khấu chèo cổ có nhiều nét gần gũi, gắn bó với trang phục đời thường, ít cách điệu, tuy đã được ước lệ, mỹ lệ hoá để phù hợp với vai diễn và yêu cầu hấp dẫn của sân khấu nên đã đẹp hơn nhiều so với trang phục lao động thường ngày của người nông dân châu thổ Bắc bộ. Màu sắc của trang phục trong chèo cổ là những gam màu đồng quê của bức tranh dân gian nông thôn, với những sắc hồng hoa đào, sắc nâu gần gũi quen thuộc, ấm áp, hồn nhiên xanh hoa lý v.v… Trang phục sân khấu tuồng truyền thống giàu tính tượng trưng, biểu tượng thông qua những hình thức, màu sắc có ý nghĩa rõ ràng với những gam màu rực rỡ, đối lập nhau: đen - đỏ; trắng - đen, v.v… Nhưng do sử dụng “tuồng tích Tàu”, lịch sử không cụ thể, nên trang phục thiên về hướng định hình khuôn mẫu, thiếu đi tính chân thực lịch sử. Chuyện Cung đình triều Nguyễn đã truyền lại: Thái hậu Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức là người có học vấn, đọc nhiều, biết rộng, đã từng nói về trang phục cho đoàn tuồng Cung đình rằng: “… Cứ triều ta ta làm” từ đó, trang phục sân khấu tuồng cung đình Việt Nam đã sử dụng nguyên mẫu trang phục cung đình Huế (đặc biệt là của vua, hoàng hậu).
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân (yêu cầu nghệ thuật hoá, kinh phí ngặt nghèo, thuận tiện cho diễn xuất, do phải kiêng kỵ…) nên trang phục tuồng truyền thống cũng không rập khuôn theo đúng nguyên mẫu, dầu vậy vẫn giữ được những đường nét, màu sắc cốt lõi, cơ bản… của những quy định nghiêm ngặt về hình dáng, chất liệu, màu sắc cho từng loại mũ, áo, xiêm, hia, đai v.v… theo lễ chế, phẩm trật của hệ thống quan lại văn, võ mà triều đình đã quy định. Một số đặc trưng của trang phục sân khấu truyền thống và trang phục sân khấu hiện đại Trang phục sân khấu là toàn bộ những yếu tố nhìn thấy được trên người diễn viên trong một vở diễn, cho phép phân biệt ở những mức độ khác nhau, những nhân vật mà diễn viên diễn tả: quần áo, mái tóc, trang phục như đồ trang sức; các bộ phận giả như: tóc giả… và cả mặt nạ. Từ nhu cầu phát triển của trang phục sân khấu, hình thành nên một đội ngũ sáng tạo và chế tác trang phục cho vai diễn trên sân khấu. Trang phục trên sân khấu, không chỉ như một tín hiệu của nghệ thuật sân khấu, mà nó cũng tạo nên một sự giao tiếp giữa diễn viên và công chúng.
Hình thức (trang phục, hoá trang) luôn thể hiện nội dung (nội tâm, tính cách) một cách thống nhất, hài hòa. Trang phục sân khấu là một trong những nhân tố sáng tạo của ngôn ngữ sân khấu, góp phần nâng cao chất lượng nghệ thuật và tính hấp dẫn của nó. Nghệ thuật sân khấu là một loại hình nghệ thuật mang tính ước lệ và tượng trưng cao, các thành tố nghệ thuật tạo nên vở diễn đều có sự phối hợp hài hoà trong tổng thể mang tính đặc trưng này. Trang phục sân khấu về cơ bản bắt nguồn từ đời sống sinh hoạt của con người, nhưng là trang phục đã cách điệu và ước lệ, giàu tính biểu tượng.
Trong thời gian qua, tuy sân khấu hiện đại đã xây dựng thành công nhiều hình tượng nhân vật lịch sử, nhưng đáng tiếc là trang phục và nghi lễ của vua chúa, quan lại, tướng lĩnh, hoàng hậu… các thời đại thiếu sự khác nhau. Về nhân vật nam có thể thấy, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Thủ Độ ăn vận tương tự nhau. Về nhân vật nữ, chiếc khăn vành dây to bản, nhiều lớp (chỉ mới có từ thời Hoàng hậu Nam Phương, nhưng độ lớn phụ thuộc phép tắc nghiêm ngặt của triều đình),lóng lánh kim sa, kim tuyến đã uy nghi trên mái tóc của các bậc vương hậu từ Thái hậu Dương Vân Nga tới Lý Chiêu Hoàng, từ Nguyên phi Ỷ Lan tới Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung. Riêng với bản thân NCS, năm lên 9 tuổi (1978) sau khi được xem vở cải lương Thái hậu Dương Vân Nga, với lòng yêu thích và ấn tượng từ đêm diễn đã vẽ lại một bức tranh nhân vật Thái hậu Dương Vân Nga và Hiệu uý Kỳ Hoa trong trang phục sân khấu hoàn toàn xa lạ với lịch sử cùng chiếc khăn đóng trang trí cầu kỳ trên đầu.
Kỷ niệm nhỏ này đã luôn nhắc nhở NCS nhận thức rõ vấn đề ấn tượng thị giác khi thưởng thức nghệ thuật là vô cùng quan trọng, giá trị hơn nữa nếu đó là những ký 21 ức về lịch sử dân tộc.