CHƯƠNG 1: THẾ GIỚI QUAN VÀ CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ 1. Vị trí của Lưu Quang Vũ trong văn học kịch Việt Nam những năm 80 ( thế kỷ XX) 1. Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam những năm 80 của thế kỷ XX Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 là một mốc son trong lịch sử dân tộc, toàn dân tưng bừng hân hoan mừng ngày thống nhất. Nhưng ngay sau chiến thắng vinh quang đó là giai đoạn kinh tế khủng hoảng trầm trọng, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn.
Mười năm đầu sau giải phóng, đất nước hoang tàn vừa chạy chữa những vết thương chiến tranh, vừa phải đối mặt với cuộc bao vây kinh tế, chống phá cách mạng của những thế lực thù địch. Kẻ thù không để cho nhân dân ta có được một ngày nào yên ổn. Chưa hết chiến tranh biên giới Tây Nam lại nảy sinh chiến tranh biên giới phía Bắc, an ninh vùng biên giới, quần đảo thường xuyên bị đe dọa. Quan hệ với một số nước láng giềng nhiều lúc vô cùng căng thẳng.
Số phận nhân dân càng thêm điêu đứng vì thiên tai lũ lụt. Bên cạnh đó, chúng ta lại nóng vội công hữu hoá tư liệu sản xuất, chỉ duy trì hình thức kinh tế quốc doanh và cơ chế bao cấp của thời chiến, bất kể những nguyên tắc quản lý quan liêu đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự vận động không ngừng của hiện thực cuộc sống. Nhận thức về những vấn đề lý luận nền tảng, về chủ nghiã Mác - Lênin còn nhiều bất cập và vận dụng chưa phù hợp vào thực tiễn riêng của nước ta, cho nên suốt mười năm sau chiến tranh, ta vẫn duy trì mô hình kinh tế bao cấp, phủ nhận sản xuất hàng hóa, phủ nhận quy luật giá trị, dẫn đến kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Vấn đề giá–lương-tiền là một khâu mắt xích quan trọng chi phối toàn bộ đời sống nhân dân nhưng trong khoảng mười năm sau chiến tranh vẫn 16 z chưa tìm ra hướng giải quyết thỏa đáng.
Chính sách cung cấp cho nhân dân bằng tem phiếu diễn ra trong suốt một thời gian dài. Mỗi hộ nông dân đều được phân phối xăng dầu với giá ưu đãi để chạy máy cày, máy gặt nhưng đa số nông dân đều bán tiêu chuẩn xăng dầu của họ cho tư thương, còn bản thân thì làm ruộng theo kiểu “con trâu đi trước cái cày theo sau”. Công nghiệp, nông nghiệp khó có cơ hội phát triển. Mỗi năm, nhà nước phải bù lỗ hàng ngàn tỉ đồng.
Những kẻ đầu cơ, tư thương khai thác chênh lệch giá thì ngày càng giàu thêm. Ở nông thôn, cách làm ăn theo con đường hợp tác xã nông nghiệp cũng nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, bất công. Việc cải thiện đời sống cho nhân dân và tìm một cung cách làm ăn theo kiểu thời bình đã trở thành vấn đề vô cùng bức thiết. Ở thời bình, ranh giới giữa các mặt đối lập cũng không rõ ràng như xưa, cuộc đấu tranh với cái ác, cái xấu không những không mất đi mà ngày một căng thẳng hơn, không loại trừ cả việc mỗi người phải đấu tranh với chính bản thân mình.
Thời bom đạn, tổn thất về tài lực, vật lực dễ dàng nhìn thấy ngay trước mặt. Nhưng khi trở lại hòa bình, những tổn thất của về vật chất lẫn tinh thần đôi khi không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Vấn đề đạo đức nhân sinh có rất nhiều điều đáng lo ngại, nhiều giá trị xã hội đã biến đổi. Song từ đường lối chính sách cho đến những hoạt động thực tiễn đều trở nên trì trệ, lỗi thời, ngưng đọng.
Công cuộc đổi mới được Đảng tích cực triển khai từ nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI (1986), xóa bỏ hình thái kinh tế tập trung quan liêu bao cấp vì mục đích thúc đẩy kinh tế phát triển, tất cả để dân giàu, nước mạnh, tiến tới công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bộ. Từ đại hội VI trở đi, đất nước đã có rất nhiều đổi thay về mọi mặt với rất nhiều thành tựu. Tình hình văn học nghệ thuật Việt Nam những năm 80 của thế kỷ XX Thời kỳ từ 1975 đến năm 1985, các thể loại thơ trữ tình, truyện ngắn, tiểu thuyết về cơ bản vẫn không có gì khác trước. Dưới sự lãnh đạo của 17 z Đảng, văn học tiếp tục tập trung làm nhiệm vụ chính trị.
Những tác giả theo đuổi đề tài chiến tranh vẫn tiếp nối khuynh hướng sử thi và cảm hứng anh hùng ca, lấy những vấn đề xã hội - lịch sử làm nội dung khai thác chủ yếu, chọn đối tượng là cộng đồng để miêu tả và phân tích một cách đầy lạc quan. Tuy nhiên các tác giả cũng nhận thức được rằng không thể viết về chiến tranh theo những mô-típ cũ, ý thức nghệ thuật của các nhà văn đang dần dần biến đổi. Trước đây, văn học sáng tác theo đề tài chiến tranh thường xây dựng những biểu tượng lý tưởng về con người, miêu tả phẩm chất con người và kết thúc tác phẩm theo như ta mong muốn. Đến thời điểm đầu thập niên 80, các tác phẩm phản ánh hiện thực chiến tranh đã gắn chủ đề đó với việc phản ánh cuộc sống đời thường để bình luận, cảm nhận nỗi đau của số phận con người buộc phải đi qua chiến tranh.
Song cho đến năm 1983, tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh vẫn chưa có sự thay đổi lớn. Theo báo cáo bổ sung ở Đại hội nhà văn lần thứ III về các sáng tác văn xuôi đề tài chiến tranh thì “Những tác phẩm viết về chiến tranh cho đến nay mới chỉ biết năm mà chưa biết mười, biết một địa phương, một chiến trường mà chưa biết hết cái toàn cuộc, biết được hành động ở phía dưới mà chưa biết những điều ở bên trên, biết rõ về ta mà chưa biết rõ về địch, biết được cái hiện tại mà chưa biết được cái âm vang của nó trong những thế hệ mai sau”. Các nhà tiểu thuyết còn dè dặt trong việc miêu tả những mặt chưa hoàn thiện của cuộc sống quá độ đi lên chủ nghiã xã hội. Thể loại truyện ngắn và thơ cũng rơi vào tình trạng “một giọng” đơn điệu, chưa để lại dấu ấn sâu sắc cho người đọc.
Đến năm 1986 - năm diễn ra Đại hội Đảng lần thứ VI, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã tuyên bố rằng cánh cửa đại hội VI đã mở ra, văn nghệ sĩ được cởi trói. Nhưng văn học kịch đã đi trước đó một bước, tạo được tiếng vang ngay từ trước đại hội VI. Năm 1979, ở hội nghị họp mặt các đạo diễn sân khấu, “một trong những vấn đề được đưa ra bàn bạc là sự đơn điệu, gần như một kiểu giống nhau giữa các vở diễn, và những tác giả, đạo diễn đã thúc giục nhau tìm tòi sáng tạo”[15,69]. Những năm tiếp theo sau đó, bối cảnh xã hội đặt ra nhiều vấn đề bức xúc như cơ chế quản lý, cơ chế phân 18 z phối, quan hệ của người nông dân với ruộng đất, hay vấn đề quyền lợi của từng người lao động bình dân.v… Nhiều mâu thuẫn tiềm ẩn trong cuộc sống đã đến lúc chín muồi cần phải được giải quyết.
Có lẽ đó chính là cơ sở hiện thực và cơ sở mĩ học cho sự ra đời hàng loạt những tác phẩm kịch giàu tính luận chiến, xuất phát từ cảm hứng của những nghệ sĩ công dân yêu nước, quan tâm đến vận mệnh của nhân dân. “Nhìn sang kịch nói, có thể khẳng định được sự phát triển mạnh mẽ và tương đối đồng bộ của loại hình sân khấu đang chiếm vị trí chủ đạo…Mỗi vở diễn đã thực sự góp một tiếng nói riêng bởi trong đó thể hiện đầy đủ thái độ, lập trường, tình cảm và quan niệm của người nghệ sĩ trước hiện thực đời sống. Các nghệ sĩ đã tỏ ra năng động, sáng tạo, mạnh dạn khi nhìn về cái thiện , cái ác, lẽ phải và sự công bằng trong xã hội. Một số vở đã có tiếng nói kịp thời và tích cực về vấn đề phải thay đổi cơ chế quản lý, thay đổi cách nhìn nhận và đánh giá con người trong xã hội mới” [16, 684].
So với tiểu thuyết, truyện ngắn và thi ca, những năm 80 (thế kỷ XX), văn học kịch đã thực hiện cuộc bứt phá táo bạo. Đề tài xây dựng chủ nghiã xã hội trở thành khuynh hướng sáng tác nổi bật. Thế hệ những nhà soạn kịch trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ tiếp tục khẳng định vị thế trong thể loại kịch là: Đào Hồng Cẩm, Học Phi, Hoài Giao, Lộng Chương, Nguyễn Vũ, Tất Đạt, Thanh Hương, Xuân Trình… Nhiều vở kịch tạo được ấn tượng sâu sắc trong lòng công chúng như: Tiếng hát (Đào Hồng Cẩm), Nhân chứng và lịch sử (Hoài Giao), Mùa hè ở biển (Xuân Trình), Đừng vội hát tình ca, Đỉnh cao mơ ước (Tất Đạt), Thung lũng tình yêu, Vàng (Thanh Hương), Hoa và cỏ dại, Hà Mi của tôi (Doãn Hoàng Giang), Tôi và chúng ta, Nguồn sáng trong đời (Lưu Quang Vũ).v Qua nhiều năm theo dõi diễn tiến của thể loại văn học kịch, tác giả Phan Trọng Thưởng đã nhận định: “Mãi đến năm 1985, nghiã là sau khi giải phóng miền Nam mười năm, cũng là thời kỳ kịch nói cực thịnh, các đoàn nghệ thuật và các nhà hát kịch nói miền Bắc mang năm vở tiêu biểu: Tôi và chúng ta, Nữ ký giả (Lưu Quang Vũ ), Đỉnh cao mơ ước (Tất Đạt ), Mùa hè ở biển (Xuân Trình ), Nhân chứng và lịch sử (Hoài Giao) vào biểu diễn 19 z ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam thì công chúng Nam Bộ mới có dịp làm quen và nhận thức một cách đầy đủ về kịch nói. Đó là một sự kiện văn hóa có ý nghiã lớn” [12,187 ].
Nhà nghiên cứu văn học Vũ Quang Vinh cũng đã có nhận định tương tự trong một bài báo nhan đề : “Vài nét về sự phát triển của kịch nói ba mươi năm qua (1954 - 1984)” đăng trên tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật số 1 năm 1985. Những năm 80 cuả thế kỷ XX là “thời kỳ phát triển nhất, khởi sắc nhất của kịch nói, nếu đem so với hai thời kỳ trước (1954 - 1964 và 1965 - 1975) .Với sự tăng tiến cả về số lượng và chất lượng các tiết mục, cũng như sự mạnh dạn và phong phú trong những đổi mới , tìm tòi sáng tạo, nên chúng ta vui mừng vì đã có một nền kịch nghệ tương đối hoàn chỉnh”.