Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU Từ khung lý thuyết và các công trình nghiên cứu trước đó, tác giả đã đưa ra được phương pháp nghiên cứu phù hợp, sau đó tiến hành phân tích thực trạng, đánh giá tác động của VĐT đối với PTKT, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút VĐT vào tỉnh Tây Ninh, từ đó rút ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân để làm cơ sở cho việc đề ra giải pháp tăng cường VĐT cho PTKT tại Tây Ninh. 6 Khung quy trình nghiên cứu được mô tả như sau: Vấn đề nghiên cứu VĐT cho PTKT tỉnh Tây Ninh ⇩ Cơ sở lý thuyết Lý thuyết cơ bản về VĐT cho PTKT ⇩ Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng (mô hình EFA và hồi quy đa biến) ⇩ Nghiên cứu thực trạng Các yếu tố tác động đến thu hút VĐT cho PTKT tỉnh Tây Ninh (Phân tích thành công, hạn chế và nguyên nhân) ⇩ Hàm ý chính sách Giải pháp tăng cường thu hút vốn cho PTKT tỉnh Tây Ninh Nguồn: Tác giả tự tổng hợp Hình 1.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu 7 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Vốn đầu tư phát triển kinh tế 2.1 Đầu tư phát triển kinh tế Khái quát về đầu tư Samuelson (1966) đã chỉ ra rằng vốn tư bản được tạo ra từ hoạt động đầu tư là vốn thực sự, dưới các vật chất cụ thể như nhà ở, đầu tư vào máy móc, thiết bị, nhà xưởng hay việc gia tăng hàng tồn kho cũng như các loại tài sản cố định khác của doanh nghiệp. Theo Keynes (1936), đầu tư cũng có thể ở dạng vô hình qua các phát minh, quá trình nghiên cứu, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực hay giáo dục.
Tất cả đều với mục tiêu là thu nhập tương lai được gia tăng. Việc mua sắm thêm tài sản cố định là đầu tư và từ chính các nguồn tài nguyên này dùng cho quá trình sản xuất hoặc cũng có thu lợi nhuận từ việc mua thêm các tài sản tài chính. Từ việc nghiên cứu khái quát trên về đầu tư, theo tác giả thì đầu tư là hoạt động sử dụng vốn trong hiện tại, nhằm tạo ra những tài sản vật chất và trí tuệ mới, năng lực sản xuất mới và duy trì những tài sản hiện có, nhằm tạo thêm việc làm và vì mục tiêu PTKT. Các hoạt động tạo ra những tài sản vật chất, như: Nhà xưởng, thiết 8 bị.
Tài sản trí tuệ, như: Tri thức, kĩ năng, làm tăng thêm hay gia tăng năng lực sản xuất từ đó tạo thêm việc làm cũng như đạt được mục tiêu phát triển bằng việc chỉ dùng vốn để tiến hành chính là đầu tư. Khái quát về PTKT Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến từ nhiều hoạt động của nền kinh tế, theo Keynes (1936) phát triển kinh tế là sự gia tăng về mặt lượng và chất của các chỉ tiêu kinh tế liên quan đến GNP, GNP đầu người hay GDP, GDP đầu người trong giới hạn của nguồn lực kinh tế. Như vậy, phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến của nền kinh tế thông qua chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực để góp phần gia tăng GNP, GNP đầu người hay GDP, GDP đầu người, trong nguồn lực có giới hạn nhất định. Theo tác giả PTKT là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế.
Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống và công bằng xã hội. Những vấn đề cơ bản của PTKT là: + Điều kiện đầu tiên để PTKT là phải có sự tăng trưởng kinh tế, gồm: Gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế, nó phải diễn ra trong một thời gian tương đối dài và ổn định. + Sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế: Thể hiện ở tỷ trọng các vùng, miền, ngành, thành phần kinh tế đều thay đổi. Trong đó tỷ trọng của vùng nông thôn giảm tương đối so với tỷ trọng vùng thành thị, tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp tăng, đặc biệt là ngành dịch vụ.
+ Cuộc sống của đại bộ phận dân số trong xã hội sẽ trở lên tốt đẹp hơn: Giáo dục, y tế, tinh thần của người dân được chăm lo nhiều hơn, môi trường được đảm bảo. + Trình độ tư duy, quan điểm sẽ thay đổi. 9 + Để có thể thay đổi trình độ tư duy, quan điểm đòi hỏi phải mở cửa nền kinh tế. + PTKT là một quá trình tiến hóa theo thời gian và do những nhân tố nội tại quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó Khái quát về đầu tư PTKT Theo Keynes (1936), đầu tư PTKT là việc sử dụng nguồn vốn có giới hạn nhằm tạo ra giá trị của cải, những tài sản mới trong tương lai nhằm góp phần gia tăng: GNP, GNP đầu người hay GDP, GDP đầu người.
Đầu tư PTKT đòi hỏi rất nhiều loại nguồn lực, bao gồm tiền vốn, nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên. (1946), đầu tư phát triển tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế vật tư, thiết bị, công nghệ. Qua đó, tác động ngay đến tổng cầu làm tổng cầu tăng lên. Trong ngắn hạn, hoạt động đầu tư làm phát sinh các nhu cầu mua sắm khi tổng cung chưa thay đổi, dẫn tới thay đổi điểm cân bằng theo hướng tăng sản lượng cho nền kinh tế.
Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung dài hạn tăng lên, cho phép tăng tiêu dùng do việc giá cả giảm xuống. Sản xuất sẽ được kích thích ở mức sản lượng cao hơn khi tăng tiêu dùng. Tăng tích lũy, tăng thu nhập, nâng cao đời sống của dân cư dựa trên cơ sở chính là sản xuất phát triển. Đầu tư tác động đối với tổng cầu và tổng cung của nền kinh tế sẽ không có sự đồng thời về mặt thời gian vừa là duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố kinh tế làm thay điểm cân bằng, vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế.
Đây là cơ sở lý luận để giải thích chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng ở nhiều nước trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng chậm. Tăng trưởng kinh tế dưới tác động của đầu tư phát triển. Cả hai mặt tốc độ tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng đều được tác động từ đầu tư. Những nhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư chính là tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý đây cũng chính là nhân tố tổng hợp, tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa để gia tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, chính vì vậy tăng trưởng kinh tế cũng cần được gia tăng về chất lượng.
Để 10 lượng hóa vai trò của vốn đầu tư với sự tăng trưởng của nền kinh tế, Harrod của Anh và Domar của Mỹ chính là hai nhà kinh tế học đã nêu ra mô hình thế hiện mối liên hệ giữa đầu tư và tăng trưởng. Mô hình này được gọi là “Mô hình Harrod – Domar" và đã có nhiều nghiên cứu sử dụng. Phương trình phản ánh tốc độ tăng trưởng kinh tế: g = S/k Trong đó: g: Tốc độ tăng trưởng. S: Tỷ lệ tiết kiệm/GDP.
k: Là hệ số gia tăng sản lượng trên vốn đầu tư (ICOR - Incremental Capital Output Ratio). Tăng trưởng có mối quan hệ trực tiếp với vốn qua hệ số này, hơn nữa nó cũng phản ánh trình độ kỹ thuật của sản xuất như: Công nghệ sử dụng nhiều lao động hay sử dụng nhiều vốn. Với việc sử dụng tăng trưởng là đầu ra và sử dụng nguồn lực đầu vào là vốn thì tính hiệu quả của việc sử dụng vốn trong nền kinh tế được thể hiện qua hệ số này. Vì thế, về mặt lý thuyết thì phải tăng mức đầu tư so với GDP và ICOR xuống hoặc hạn chế không tăng để có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.
Tuy nhiên theo công thức trên, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hằng năm được xác định bằng tỷ lệ giữa mức đầu tư so với GDP và ICOR nhưng đây không phải là hai biến độc lập, nó có quan hệ với nhau trong mối quan hệ của hệ thống kinh tế. Đầu tư phát triển tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp quy luật và chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia hay vùng lãnh thổ trong từng thời kỳ, phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng cần tạo ra sự cân đối mới, coi trọng yếu tố ngoại lực đông thời phát huy nội lực của nền kinh tế. Đối với cơ cấu ngành, đầu tư vốn vào ngành nào, quy mô vốn đầu tư từng ngành nhiều hay ít, việc sử dụng vốn hiệu quả cao hay thấp, đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề 11 vật chất để phát triển các ngành mới, do đó làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành.
Đối với vùng lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, vị trí địa lý, kinh tế, chính trị của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm lan tỏa, thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển. Tác động của đầu tư phát triển đến khoa học và công nghệ. Đầu tư phát triển tác động đến tăng trưởng và PTKT. Tăng trưởng và PTKT bền vững tạo sự tin tưởng cho những nhà đầu tư và giúp hoàn thiện hơn cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tạo điều kiện thu hút nguồn đầu tư nước ngoài thông qua FDI và ODA, làm tăng tỷ lệ tích lũy, góp sung vốn cho đầu tư phát triển, làm cho nền kinh tế có nội lực lớn hơn, quy mô vốn của toàn bộ nền kinh tế ngày càng lớn, sản xuất phát triển không ngừng, nền kinh tế cũng như doanh nghiệp có nguồn lực để nâng cao mức sống của các thành viên, đồng thời bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển ở giai đoạn tiếp theo.