CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP CỦA C.JUNG VÀ ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI QUAN NIỆM CỦA ÔNG VỀ VÔ THỨC CÁ NHÂN VÀ VÔ THỨC TẬP THỂ 1. Khái quát về trường phái Phân tâm học và về cuộc đời, sự nghiệp của C. Khái quát về trường phái Phân tâm học Phân tâm học là một học thuyết về tâm lý học, được sáng lập vào khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 bởi một nhà thần kinh học người Áo – Sigmund Freud.
Phân tâm học trước hết là lĩnh vực y học thực hành, là hoạt động tinh thần của hàng trăm nghìn bác sĩ tâm thần tại các nước khác nhau. Tương ứng với hoạt động đó là sự hình thành các viện nghiên cứu, các trường học, các quỹ, các nhà xuất bản, các tạp chí, các hội phân tâm học dân tộc thuộc Hội Phân tâm học quốc tế. Ngoài ra còn có hàng loạt các tổ chức, các hội khác với quy mô nhỏ hơn như: hội “Tâm lí học cá nhân” của A.Adler, hội “Tâm lí học phân tích” của C.Jung, hội những người theo thuyết Freud mới do K.Horni sáng lập, hội phân tâm học của Erich Fromm, Harry Stack Sullivan, Jacques Lacan,… Tất cả các học thuyết, tổ chức này đều gắn liền với các tư tưởng của nhà sáng lập ra Phân tâm học là S. Cùng với nhiều công trình nghiên cứa về con người như thuyết tiến hóa và khoa học về nhận thức, Phân tâm học đã đóng góp sâu hơn vào việc tìm hiểu nhận thức về văn hóa và văn minh nhân loại.
Những luận thuyết cơ bản của phân tâm học chủ yếu bao gồm: - Hành vi, kinh nghiệm và nhận thức của con người phần lớn được định hình bởi các xung năng bẩm sinh và phi lý. - Những xung năng này mang bản chất vô thức. - Quá trình cố đưa những xung năng này “trồi” lên bề mặt ý thức sẽ gây ra những kháng cự tâm lý, được biểu hiện qua các cơ chế phòng vệ. 12 - Bên cạnh những cấu trúc tâm thần mang tính bẩm sinh đó, sự phát triển của một cá nhân còn được định hình bởi những sự kiện thuở ấu thời.
- Những xung đột giữa ý thức về thực tại với phần vô thức của hệ tâm thần (tạo nên sự dồn nén) có thể là nguồn gốc của những chứng rối nhiễu tâm trí như chứng nhiễu tâm, lo âu, trầm uất, v. - Phương thức để giải trừ những ảnh hưởng này từ những nội dung vô thức là đưa các nội dung đó lên bình diện ý thức. Dưới tầm ảnh hưởng rộng lớn của Phân tâm học, đã có ít nhất 22 nhánh lý thuyết nghiên cứu về sự phát triển tâm trí con người. Đôi khi người ta đồng nhất phân tâm học với học thuyết của Freud bởi Freud là người sáng lập ra trào lưu này đồng thời khiến cho cả thế giới biết đến nó như là một trong những trào lưu nổi bật của giai đoạn triết học phương Tây hiện đại.
Lí thuyết phân tâm của Freud chủ yếu xoay quanh những vấn đề cơ bản như: cái tâm lí vô thức, lí luận về bản năng hay dục vọng, về bản chất của tôn giáo và triết học văn hóa. Sau một quá trình tìm tòi và tiến hành thực nghiệm, Freud đã đi đến quan điểm về cái tâm lí vô thức. Cũng giống như nhiều quan điểm trước đó, Freud cũng nhất trí rằng, ngoài các quá trình tâm lí được chúng ta ý thức thì còn có các quá trình không được ý thức. Không dừng lại ở việc mô tả những hiện tượng vô thức mà Freud còn tìm hiểu nguyên nhân của chúng và cơ chế của bộ máy tâm lí.
Qua đó, ông đưa ra hai mô hình tâm lí trong hai giai đoạn khác nhau: Đầu thế kỉ XX, ông phân biệt ba bậc thang của ý thức là ý thức, tiềm thức và vô thức; vào những năm 20 của thế kỉ XX, ông đưa ra mô hình cấu trúc tâm lí thứ hai là: cái Nó, cái Tôi và cái Siêu Tôi. Đặc biêt, đối với Freud, các quá trình vô thức được nhất quán đồng nhất với những kích thích mang tính bản năng, trước hết là dục vọng. Dục vọng thì luôn xung đột với những chuẩn tắc xã hội và các quy định đạo đức, và sự sinh tồn của con người đã và luôn luôn là trận chiến đấu giữa những khát vọng mang tính bản năng và những yêu 13 cầu của văn hóa có định hướng khác nhau. Chính việc đè nén các dục vọng tự nhiên đã dẫn tới đa số bệnh tâm thần, nhưng việc đè nén dục vọng là một tất yếu nghiệt ngã.
Bất kì văn hóa nào cũng được xây dựng dựa trên việc khước từ đáp ứng những dục vọng, dựa trên những cấm đoán đối với việc trực tiếp thực hiện các nhu cầu sinh học định trước. Freud cũng áp dụng nguyên tắc phân tâm học vào việc nghiên cứu tôn giáo. Ông xem xét nguồn gốc của tôn giáo song hành với việc xem xét tâm lí trẻ thơ. Kho tàng quan niệm tôn giáo không những bao hàm việc thực hiện những khát vọng mà cả những kí ức lịch sử quan trọng.
Freud so sánh tôn giáo của cá nhân với chứng loạn thần kinh cá nhân, còn tôn giáo nói chung với chứng loạn thần kinh phổ biến của tập thể. Tôn giáo đóng một vai trò quan trọng trong văn hóa như là phương tiện bảo vệ tránh khỏi mối nguy hiểm của chứng loạn thần kinh cá thể. Freud cũng dự báo về tương lai của tôn giáo: khi con người có được cảm giác thực tại, con người sẽ khước từ và chia tay với tôn giáo, với những ảo tưởng tôn giáo. Sau Freud, phải kể đến những đóng góp của C.Jung- nhà phân tâm học người Thụy Sĩ - một trong những học trò xuất sắc của Freud.
Jung đã đi đến các luận điểm chủ yếu trong học thuyết của mình trước khi gặp gỡ với Freud vào năm 1907. Khái niệm trung tâm của Jung là “cái vô thức tập thể” trong sự phân biệt với cái vô thức cá nhân. Vô thức tập thể là kết quả sinh hoạt của loài người, nó vốn có ở mọi người, được kế thừa và trở thành cơ sở cho tâm lí cá nhân phát triển trên đó. Không chỉ những phản ứng đơn giản (như phản xạ không điều kiện), mà cả trực giác, tư duy, trí tưởng tượng của chúng ta đều chịu ảnh hưởng của các chương trình bẩm sinh.
Các mẫu lí tưởng (archetype) của cái vô thức tập thể trở thành các khuôn mẫu nhận thức đặc biệt. Các hình ảnh về mẫu lí tưởng luôn đi liền với con người, chúng là nguồn gốc của thần thoại, của tôn giáo và của nghệ thuật. Trong đó, thần thoại là phương thức đầu tiên để vô hiệu hóa năng lượng 14 tâm lí khổng lồ của các mẫu lí tưởng. Jung cũng khẳng định, tâm lí con người là chỉnh thể bao gồm những quá trình vô thức và có ý thức.
Đây là hệ thống tự điều tiết trong đó diễn ra sự trao đổi năng lượng giữa các thành tố. Chính cái vô thức cố gắng “đền bù” tính phiến diện của ý thức, từ đó thiết lập lại trạng thái cân bằng vốn có của tâm thức con người. Bên cạnh đó, nhắc đến trào lưu phân tâm học không thể không nhắc đến những đóng góp của nhà phân tâm học Fromm. Fromm đoạn tuyệt triệt để với học thuyết Freud và với nhiều tổ chức, hội phân tâm học khác nhau, vì ông là kẻ ly khai vĩnh viễn.
Quan điểm nổi bật của Fromm là quan điểm về bản tính con người. Fromm xác định bản tính con người không phải là tổng thể các dục vọng được định trước về mặt sinh học, mà bản tính con người được giữ lại trong mọi biến đổi và trong mọi văn hóa. Nó được sử dụng làm tiêu chí để đánh giá các chế độ kinh tế và chế độ chính trị như là cái cản trở hay thúc đẩy sự tự do thực hiện bản tính ấy. Việc phi sinh học hóa đối với dục vọng đã đưa Fromm tới chỗ xem xét lại khái niệm cái vô thức.
Cái vô thức không phải là cái thiện, không phải là cái ác, không phải là một cái hợp lí hay bất hợp lí, nó vừa là cái này vừa là cái kia, là tất cả những gì mang tính người. Nhìn chung, phân tâm học không phải là một sự tư biện triết học, vì cơ sở của nó là thực tiễn chữa bệnh tâm thần được suy xét nhờ một hệ thống phạm trù nhất định có tính chất triết học. Mỗi một nhà phân tâm học lại cố gắng đi theo những con đường riêng với những quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, quan điểm của các nhà phân tâm học cũng có những điểm chung.
Điểm chung đó không chỉ là những khái niệm như “cái vô thức”, “sự kiểm duyệt”, “sự gạt ra”, v. được tất cả các nhà phân tâm học sử dụng. Đó còn là sự phóng chiếu ra thế giới bên ngoài các hình ảnh sinh ra từ những dục vọng vô thức. Đối với các nhà phân tâm học, tính chất của bức tranh thế giới bên ngoài không đóng vai trò quan trọng trong các học 15 thuyết phân tâm học.
Thực chất, bức tranh hiện có về thế giới luôn bao hàm trong mình những khát vọng và ảo tưởng của con người. Đối tượng nghiên cứu của các nhà phân tâm học không phải là thế giới bên ngoài mà là tâm thần, do vậy, các tác phẩm nghệ thuật, các quan điểm triết học và khoa học, các học thuyết tôn giáo, các hệ tư tưởng chính trị đều được quy về động cơ vô thức. Một đặc điểm khác của mọi quan điểm phân tâm học xuất phát từ mối liên hệ của chúng với thực tiễn chữa bệnh tâm thần, đó là cái định trước một hình thức sinh hoạt đặc biệt. Nó sinh ra từ kinh nghiệm giao tiếp, từ sự thay đổi tâm thế, từ định hướng của cá nhân trong quá trình làm chủ các quá trình tâm thần của riêng mình nhờ sự giúp đỡ của nhà phân tâm học.
Sự nhận thức chân thực về thế giới nội tâm của bản thân mình sẽ có được thông qua sự hồi tâm, sự hồi tâm đó sẽ không những làm thay đổi tự ý thức mà còn làm thay đổi toàn bộ tiến trình sống của bệnh nhân. Sự kết hợp giữa lí luận với thực tiễn không phải chỉ đến triết học của các nhà phân tâm học mới được nói đến. Trước đó, trong các học thuyết cổ đã từng kết hợp lí luận với thực tiễn tự điều tiết tâm lí (yoga). Các nhà triết học từ thời cận đại đã cho rằng, “tình yêu sự thông thái” không phải trò chơi của những khái niệm thuần túy, không phải là tổng thể các học thuyết được đưa ra trong phạm vi một cộng đồng khoa học.