Lý luận về vật quyền và ứng dụng trong xây dựng hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam

Bài viết phân tích lý luận về vật quyền và ứng dụng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả pháp lý.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

205
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.2. Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ VẬT QUYỀN VÀ VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ VẬT QUYỀN TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ

2.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại, nguyên tắc của vật quyền trong pháp luật dân sự

2.2. Nội dung của vật quyền trong pháp luật dân sự

2.3. Vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự, kinh nghiệm các nước và bài học đối với Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ VẬT QUYỀN TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

3.1. Những kết quả đạt được

3.2. Những bất cập, hạn chế và nguyên nhân

4. CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC TIẾP TỤC VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ VẬT QUYỀN TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

4.1. Bối cảnh và định hướng của việc tiếp tục vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam

4.2. Các giải pháp tiếp tục vận dụng lý luận vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng quan về vật quyền và pháp luật dân sự Việt Nam

Vật quyền là một trong những khái niệm cơ bản trong pháp luật dân sự, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản. Trong bối cảnh pháp luật dân sự Việt Nam, việc hiểu rõ về vật quyền giúp các nhà lập pháp xây dựng các quy định pháp lý phù hợp, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các chủ thể. Nghiên cứu về vật quyền không chỉ giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi của người dân trong xã hội.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của vật quyền

Vật quyền được hiểu là quyền của chủ thể đối với tài sản, bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Đặc điểm của vật quyền là tính chất pháp lý rõ ràng, có thể chuyển nhượng và bảo vệ bởi pháp luật.

1.2. Vai trò của vật quyền trong pháp luật dân sự

Vật quyền đóng vai trò quan trọng trong việc xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong các giao dịch dân sự. Nó giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu và tạo ra sự ổn định trong các quan hệ pháp lý.

II. Những thách thức trong việc hoàn thiện pháp luật dân sự liên quan đến vật quyền

Việc hoàn thiện pháp luật dân sự liên quan đến vật quyền gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn là sự thiếu đồng bộ trong các quy định pháp luật, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng và thực thi. Ngoài ra, việc nhận thức về vật quyền trong xã hội còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền lợi của người dân.

2.1. Thiếu đồng bộ trong quy định pháp luật

Nhiều quy định về vật quyền trong Bộ luật Dân sự hiện hành chưa được cập nhật, dẫn đến sự không nhất quán trong việc áp dụng. Điều này gây khó khăn cho các cơ quan thực thi pháp luật và người dân trong việc bảo vệ quyền lợi của mình.

2.2. Nhận thức hạn chế về vật quyền trong xã hội

Nhiều người dân chưa hiểu rõ về quyền lợi của mình liên quan đến vật quyền, dẫn đến việc không biết cách bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Điều này cần được cải thiện thông qua các chương trình giáo dục pháp luật.

III. Phương pháp hoàn thiện pháp luật dân sự về vật quyền

Để hoàn thiện pháp luật dân sự về vật quyền, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học và thực tiễn. Việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam sẽ giúp xây dựng các quy định pháp lý phù hợp và hiệu quả hơn.

3.1. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế

Việc nghiên cứu các hệ thống pháp luật của các quốc gia khác như Pháp, Đức, Nhật Bản sẽ giúp Việt Nam rút ra bài học kinh nghiệm quý báu trong việc xây dựng và hoàn thiện quy định về vật quyền.

3.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Cần tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật, từ đó nâng cao nhận thức và bảo vệ quyền lợi của họ trong các giao dịch dân sự.

IV. Ứng dụng thực tiễn của vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam

Việc ứng dụng lý luận về vật quyền trong thực tiễn pháp luật dân sự Việt Nam đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các quy định về quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản đã được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch dân sự.

4.1. Kết quả đạt được trong việc áp dụng vật quyền

Nhiều quy định mới đã được ban hành, giúp bảo vệ quyền lợi của người dân và tạo ra sự minh bạch trong các giao dịch. Điều này đã góp phần nâng cao niềm tin của người dân vào hệ thống pháp luật.

4.2. Những hạn chế trong thực tiễn áp dụng

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế trong việc thực thi các quy định về vật quyền. Cần có các biện pháp khắc phục để đảm bảo quyền lợi của người dân được bảo vệ tốt hơn.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho vật quyền trong pháp luật dân sự

Việc hoàn thiện pháp luật dân sự về vật quyền là một quá trình liên tục và cần thiết. Định hướng tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức của người dân, cải thiện quy định pháp luật và tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quá trình xây dựng pháp luật.

5.1. Định hướng nâng cao nhận thức về vật quyền

Cần triển khai các chương trình giáo dục pháp luật để nâng cao nhận thức của người dân về quyền lợi của mình liên quan đến vật quyền.

5.2. Cải thiện quy định pháp luật về vật quyền

Cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các quy định pháp luật để đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả trong việc bảo vệ quyền lợi của người dân.

27/07/2025
Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các nghiên cứu lý luận về vật quyền Các công trình nghiên cứu về vật quyền ở nước ngoài mà tác giả Luận án tiếp cận được tập trung vào các nghiên cứu về lý luận vật quyền. Trước hết phải kể tới là các công trình nghiên cứu về pháp luật La Mã cổ đại.

Các công trình nghiên cứu khoa học này đã đặt nền móng căn bản cho các học giả ở các thế hệ sau tiếp tục phát triển lý luận về vật quyền. Nghiên cứu lý luận vật quyền cũng được thể hiện trong các công trình nghiên cứu về pháp luật so sánh cũng như các công trình về nghiên cứu về xây dựng, hoàn thiện pháp luật dân sự của các nước. Có thể nói các công trình nghiên cứu đã góp phần quan trọng trong việc làm rõ thêm nội dung lý luận vật quyền và thực tiễn ứng dụng ở một số quốc gia trên thế giới. Về tài sản - đối tượng của vật quyền Nhiều tài liệu, sách chuyên khảo mà tác giả Luận án tiếp cận đã nghiên cứu kỹ lưỡng về tài sản, đối tượng của vật quyền, có thể kể đến một số công trình sau: - Sách chuyên khảo A Theory of Property (Lý thuyết về tài sản) của tác giả Abraham Bell và Gideon Parchomovsky [140]: tác giả đã đưa ra lý thuyết thống nhất về tài sản dựa trên sự hiểu biết rằng luật tài sản được tổ chức xung quanh việc tạo lập và bảo vệ giá trị vốn có trong quyền sở hữu.

Tác giả đưa ra luận điểm cho rằng việc nghiên cứu theo cách tập trung vào giá trị của quyền sở hữu ổn định kết hợp chặt chẽ các lý thuyết phân tán hiện đang gây khó khăn cho các học giả trong việc xác định ý nghĩa, khái niệm, mô tả về quyền với tài sản và xây dựng các QPPL cho hiệu quả. Tác giả cho rằng bất lý thuyết tài sản mạch lạc và toàn diện nào cũng phải giải quyết bốn câu hỏi pháp lý: (1) quyền lợi hợp pháp nào đủ điều kiện được công nhận hợp pháp là quyền tài sản?; (2) ai áp dụng các quyền?; (3) nội dung của quyền tài sản, chẳng hạn loại quyền tài sản nào thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu? và (4) các biện pháp khắc phục hành vi xâm phạm quyền sở hữu là gì? Sau đó, bằng cách tập trung vào giá trị vốn có trong quyền sở hữu, tác giả giải quyết toàn diện 8 bốn câu hỏi này, cho thấy cách luật tài sản nhận ra và giúp tạo mối quan hệ ổn định giữa người và tài sản. Cuốn sách đã phân tích và chỉ ra rằng xu hướng của pháp luật hiện đại là làm rõ và chỉ ra giới hạn quyền của những người không phải là chủ sở hữu nhằm bảo vệ chủ sở hữu. - Sách chuyên khảo Principles of Property Law (Nguyên tắc của Luật tài sản) của tác giả Alison Clarke [141]: tác giả cho rằng tài sản có thể được hiểu là những gì cụ thể hoàn toàn thuộc về một chủ thể (người) và hiểu rộng hơn về mặt pháp lý là toàn bộ những quyền của một chủ thể đối với một "vật" nhất định được nhà nước đảm bảo và bảo vệ, khái niệm tài sản được dùng đối với bất cứ loại lợi ích hay quyền có giá trị nào (Property is about the rights we have in things).

- Sách chuyên khảo Legalism: Property and Ownership (Chủ nghĩa pháp luật: tài sản và quyền sở hữu) của tác giả Georgy Kantor, Tom Lambert và Hannah Skoda [153]: các tác giả nêu quan điểm dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ "tài sản" không dùng để chỉ một vật hữu hình hay vô hình; nó chỉ phản ánh quan hệ pháp lý gắn với vật đó, tức các mối quan hệ giữa một người với một vật. - Bài viết ''Property rights and the ways of protecting entitlements - an interdisciplinary approach'' (Quyền tài sản và cách thức bảo vệ - tiếp cận liên quan), Maria Tereza Leopardi Melloa [161]: bài viết này thảo luận về khái niệm tài sản với tính chất là đối tượng của quyền theo quan điểm liên ngành (Luật và Kinh tế) để soạn thảo một khung khái niệm phân tích cho các vấn đề liên quan đến khả năng chấp nhận liên quan đến hàng hóa công cộng và phân tích tài nguyên chung Tại Việt Nam, trong thời gian gần đây có khả nhiều đề tài nghiên cứu về tài sản và các vấn đề đặt ra, chẳng hạn Đề tài khoa học cấp Bộ Hoàn thiện thể chế nhằm thực hiện đầy đủ quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân của Nguyễn Thanh Tú [121]. Đề tài có những phân tích sâu sắc về khái niệm tài sản, đối tượng của nhiều quan hệ kinh tế- xã hội nói chung và quan hệ sở hữu nói riêng. Bên cạnh đó, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tại Việt Nam đã có một số công trình được công bố bàn về vấn đề tài sản trong môi trường kỹ thuật số và những vấn đề pháp lý đặt ra.

Có thể kể đến một số cuốn sách chuyên khảo như: Một số vấn đề pháp lý về tài sản mã hóa, tiền mã hóa, Phan Chí Hiếu, Nguyễn Thanh Tú [72]; Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề pháp 9 đặt ra, Phan Chí Hiếu, Nguyễn Văn Cương [73]; sách chuyên khảo Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về tiền ảo trong bối cảnh hội nhập và phát triển, Nguyễn Minh Oanh (chủ biên) [94] … Các sách này đề cập đến các vấn đề pháp lý về quyền đối với "tài sản" mới cũng như tài sản truyền thống (như quyền SHTT) trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Các cuốn sách này đều chung nhận định rằng tài sản trong môi trường kỹ thuật số, trong bối cảnh phát triển của CMCN 4.0 là các vấn đề pháp lý mới, bởi vậy, cách tiếp cận chủ yếu chỉ dừng ở các định hướng hoặc nêu những vấn đề còn nhiều quan điểm khác nhau. Về các loại vật quyền Các nghiên cứu về lý luận và các loại vật quyền trong nước và nước ngoài tương đối phong phú, đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh khác nhau. Cụ thể: - Sách chuyên khảo A manual of the principles of Roman Law relating to persons, property, and obligations (Cẩm nang về các nguyên tắc của Luật La Mã liên quan đến người, tài sản và nghĩa vụ), R.

Melville [169]: cuốn sách đã phân tích cách tiếp cận của pháp luật La Mã về quyền đối với vật. Theo đó, một chủ thể có thể có được tài sản, xác lập quyền sở hữu đôi với tài sản bằng nhiều cách thức khác nhau. Khi đã là chủ tài sản, người này có toàn quyền, có thể thực hiện các hành vi tác động vào tài sản. Quyền sở hữu là quyền tuyệt đối và có phạm vi rộng.

Tuy nhiên, ngay trong thời kỳ này, người La Mã đã quan niệm, quyền đối với tài sản không chỉ là quyền sở hữu của chủ tài sản đối với tài sản của mình mà còn có thể có quyền của chủ thể khác đối với tài sản đó. Nói cách khác, trong một số trường hợp nhất định, quyền tuyệt đối của chủ sở hữu tài sản có thể bị hạn chế, giới hạn bởi quyền của chủ thể khác, theo đó các chủ thể này cũng có quyền trực tiếp đối với tài sản trong phạm vi nhất định. Cuốn sách đã chỉ ra rằng, theo pháp luật La Mã, có 4 loại quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản là địa dịch; quyền bề mặt; quyền canh tác; quyền cầm cố, thế chấp. Sách chuyên khảo On Law and Justice (Về pháp luật và tư pháp), Alf Ross [142]: chương bảy cuốn sách đề cập đến quyền đối vật và quyền đối nhân.

Nội dung chương này đã phân tích về sự phân biệt trong luật từ thời cổ đại về hai nhóm quyền liên quan đến tài sản là quyền đối vật và quyền đối nhân. Các học thuyết về sự phân tách này có thể phát triển theo các cách chi tiết khác nhau nhưng điều cốt lõi không thay đổi là sự kết nối giữa quyền và bảo vệ quyền. Các học thuyết về quyền đối vật 10 và quyền đối nhân có những điểm khác nhau phụ thuộc vào cách phân biệt theo nội dung bảo vệ, có thể tổng hợp như sau: (1) quyền đối vật là quyền mà theo đó nội dung quyền bao trùm lên vật và bởi vậy cung cấp sự bảo vệ cho vật; (2) quyền đối nhân là quyền mà theo đó nội dung của quyền cung cấp sự bảo vệ cho người; (3) người có quyền đối vật có quyền xử lý đối với tài sản trong khi người có quyền đối nhân chỉ có quyền yêu cầu. Từ các điểm khác biệt đó, tác giả chứng minh pháp luật dân sự của các nước được xây dựng dựa trên nền tảng của sự phân tách về quyền đối vật và quyền đối nhân.

- Bài viết "Property rights and the ways of protecting entitlements - an interdisciplinary approach" (Quyền tài sản và cách thức bảo vệ - tiếp cận liên quan), Maria Tereza Leopardi Melloa [161]: Tác giả giải mã những quyền được gọi là quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản. Theo pháp luật Brazin, vật quyền được khẳng định bằng quyền trực tiếp và ngay lập tức với vật, gồm vật chất hoặc không phải vật chất, động sản hoặc bất động sản. Theo đó, người có quyền không cần sự can thiệp hay trung gian nào từ bên thứ ba; sự tồn tại của quyền đặt ra đối với đối tượng của nó liên quan trực tiếp đến người nắm giữ quyền. Quyền sở hữu được coi là một bó quyền gồm các quyền cơ bản được gọi tên gồm quyền sử dụng, chiếm hữu và định đoạt.

Những quyền này, có thể hoặc không thuộc về cùng một chủ sở hữu. Vật quyền luôn đòi hòi phải được ghi nhận bằng luật trước đó, ngăn chặn các cá nhân tạo ra hoặc sửa đổi nội dung của các quyền đó thông qua các thỏa thuận riêng tư. Vật quyền không chỉ quyền sở hữu mà còn là phân nhánh của quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng, hưởng dụng); quyền trực tiếp đối với tài sản của bên nhận thế chấp, bên nhận cầm cố.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ