Chương 1: Khái quát về văn học thiếu nhi Việt Nam và văn học thiếu nhi dân tộc thiểu số thời kì hiện đại. Chương 2: Văn xuôi viết cho thiếu nhi của một số tác giả dân tộc Tày nhìn từ phương diện nội dung Chương 3: Văn xuôi viết cho thiếu nhi của một số tác giả dân tộc Tày nhìn từ phương diện nghệ thuật 11 c NỘI DUNG CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC THIẾU NHI VIỆT NAM VÀ VĂN HỌC THIẾU NHI DÂN TỘC THIỂU SỐ THỜI KÌ HIỆN ĐẠI 1. Khái niệm văn học thiếu nhi 1. Khái niệm Từ lâu nay, trên thế giới đã có một bộ phận sáng tác dành riêng cho lứa tuổi thiếu nhi.
Những cuốn sách đầu tiên của loại này là những cuốn sách về các quy tắc ứng xử, chúng nhằm mục đích uốn nắn cho các em những chuẩn mực đạo đức trong môi trường xã hội đương thời. Ở châu Âu thể loại sách này xuất hiện đầu tiên vào khoảng thế kỉ XIV. Ở Việt Nam trong thời phong kiến không tồn tại bộ phận văn học viết dành cho thiếu nhi. Nhưng vào thời bấy giờ, trẻ em Việt Nam có may mắn là được tiếp thu một nền văn học dân gian phong phú qua những lời ru của mẹ, qua những câu chuyện kể của bà.
Đến đầu thế kỉ XX ở nước ta bắt đầu xuất hiện những tác phẩm viết cho thiếu nhi, mà môt trong những tác giả của buổi ban đầu ấy chính là Tản Đà với Lên sáu lên tám (1921). Sau khi cách mạng thành công được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, văn học thiếu nhi Việt Nam mới chính thức ra đời. Vậy văn học thiếu nhi là gì? Những tác phẩm nào có thể được xếp vào mảng văn học này? Trong bài viết Từ cuộc sống hôm nay, văn học chuẩn bị bản lĩnh và lòng tin cho con em chúng ta bước vào thế kỷ thứ XXI tác giả Hà Xuân Trường đã nêu lên những suy nghĩ của mình về khái niệm văn học thiếu nhi: “Nếu hiểu một cách đầy đủ, theo tôi nghĩ, văn học thiếu nhi gồm ba bộ phận: văn học về thiếu nhi, văn học cho thiếu nhi và văn học của thiếu nhi; hai bộ phận sau có những đặc điểm riêng biệt, mà văn học cho thiếu nhi là bao trùm” [45,tr. Từ đó tác giả đề xuất lấy bộ phận chủ yếu “văn học cho thiếu nhi” để chỉ nền văn học viết cho các em và viết về các em.
Các tác giả cũng còn nhiều băn khoăn về cách gọi văn học thiếu nhi. Một số tác giả gọi văn học dành cho lứa tuổi thiếu nhi là văn học trẻ em. Tác giả Lã Thị Bắc Lý trong cuốn Giáo trình Văn học trẻ em đã dùng cụm từ văn 12 c học trẻ em thay vì dùng cụm từ văn học thiếu nhi vốn vẫn quen thuộc và được nhiều người sử dụng. Trong bài viết Nghĩ về nghề tác giả Vũ Ngọc Bình cũng thiên về cách gọi là Văn học trẻ em.
Ông viết: “Gọi là thiếu nhi thì hơi chữ nghĩa,“hơi tàu”. Gọi là trẻ con thì lại khinh thị. Gọi là trẻ em thì vừa nôm na, lại vừa rất trúng” [45, tr. Nhưng nhìn chung, hiện nay bạn đọc và đông đảo các nhà nghiên cứu vẫn quen dùng cụm từ văn học thiếu nhi để chỉ bộ phận văn học dành cho tuổi nhỏ.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học khái niệm văn học thiếu nhi được định nghĩa như sau: “Theo nghĩa hẹp, văn học thiếu nhi gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho thiếu nhi. Tuy vậy khái niệm văn học thiếu nhi cũng thường bao gồm một phạm vi rộng rãi những tác phẩm văn học thông thường (cho người lớn) đã đi vào phạm vi đọc của thiếu nhi, như Đôn Ki - hô - tê của M. Xéc - van - tex, Rô - bin - xơn Cơ - ru - xô của Đ. Đi - phô, Gu - li - vơ du kí của Gi.
Xuýt - tơ, Túp lều bác Tôm của H. Bi - sơ – Xtâu” [39, tr. Khái niệm văn học thiếu nhi trong Từ điển thuật ngữ văn học cho đến nay vẫn là một khái niệm được nhiều người biết đến và sử dụng. Nó cũng là khái niệm được dùng trong các cuốn giáo trình giảng dạy về văn học thiếu nhi mà cuốn Giáo trình văn học trẻ em của Lã Thị Bắc Lý là một ví dụ.
Theo Bách khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam, văn học thiếu nhi là: “Những tác phẩm văn học được mọi nhà văn sáng tạo ra với mục đích giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, tính cách cho thiếu nhi. Nhân vật trung tâm của nó là thiếu nhi nhiều khi cũng là người lớn, hoặc một cơn gió, một loài vật, một cái cây… Tác giả không chỉ là chính các em, mà cũng là nhà văn thuộc mọi lứa tuổi” [46, tr. Như vậy Bách khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam xem xét khái niệm văn học thiếu nhi ở nhiều góc độ: chủ thế sáng tác, đối tượng tiếp nhận, nhân vật trung tâm, mục đích sáng tác. Tóm lại, hiểu một cách chung nhất thì văn học thiếu nhi là những sáng tác của cả trẻ em và người lớn dành cho đối tượng là các thế hệ thiếu nhi và có nội 13 c dung hướng đến việc giáo dục nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn cho thế hệ trẻ.
Những tác phẩm này được các em thiếu nhi say mê thích thú vì các em tìm thấy trong đó cả một thế giới được quan sát dưới “lăng kính” hồn nhiên, trong trẻo của trẻ thơ. Một số đặc điểm cơ bản của văn học thiếu nhi 1. Văn học thiếu nhi kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính giáo dục với tính giải trí Văn học thiếu nhi có vai trò quan trọng trong việc giáo dục toàn diện nhân cách trẻ em, cả về đạo đức, trí tuệ và thẩm mĩ. Trong bài Mấy suy nghĩ về đặc trưng và chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi Võ Quảng viết: “Chức năng giáo dục là chức năng hàng đầu của văn học thiếu nhi.
Đó là điều khẳng định, không cần bàn cãi. Người viết cho thiếu nhi phải có hai tư cách, tư cách người viết văn và tư cách người làm cha mẹ muốn cho con mình nên. Câu chuyện phải rõ ràng, tư tưởng chủ đề phải trong sáng. Khi diễn tả tránh mọi hình tượng có thể đưa lại những ý nghĩ không tốt cho các em.
Quan điểm sư phạm và văn học thiếu nhi là hai anh em sinh đôi. Văn học thiếu nhi không có lí do đứng được, nếu không phát huy được chức năng giáo dục” [45, tr. Tuy nhiên, để thực hiện tốt chức năng giáo dục, nhà văn không thể nói với các em bằng những lời thuyết giáo, răn dạy khô khan mà phải bằng hình tượng nghệ thuật sinh động, bằng ngôn ngữ nghệ thuật hấp dẫn phù hợp với tuổi thơ. Chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi phải được chứa đựng trong một tác phẩm mà khi đọc lên, các em thấy lôi cuốn.
Trong bài Nghĩ về tính hấp dẫn trong văn học thiếu nhi, tác giả Hải Hồ viết: “Nhà trường có quyền bắt các em học đủ các môn trong chương trình giáo khoa. Không thích cũng phải học. Còn quyển sách của nhà văn thì hoàn toàn phụ thuộc vào sự lựa chọn của các em. Sách viết về những điều tốt lành đấy, nhưng không hấp dẫn, các em vẫn ngán và bỏ dở giống như ngại uống thuốc bổ.
Bổ nhưng đắng và khó nuốt lắm! Các nhà y tế đã biết rõ điều đó và thường bọc đường vào những viên thuốc bổ để các em uống thuốc mà thấy ngon như ăn kẹo. Vừa 14 c ngọt vừa thơm! Tính hấp dẫn của quyển truyện thiếu nhi chính là cái chất ngọt thơm quyện vào trang sách” [45, tr. Một cuốn sách có nội dung giáo dục có sâu sắc nhưng nếu không hấp dẫn được bạn đọc thì không thể thực hiện được chức năng giáo dục đó. Do đó bên cạnh tính giáo huấn, văn học thiếu nhi còn phải có tính giải trí.
Sau những giờ học tập căng thẳng, hay sau những buổi lao động mệt mỏi, các em thiếu nhi rất cần khoảng thời gian thư giãn thoải mái, được thỏa sức thả trí tưởng tượng bay bổng đi khắp nơi cùng với những cuốn sách yêu thích của mình. Thế giới hiện thực được quan sát bằng lăng kính của trẻ thơ Một quyển sách người lớn đọc thấy hay, trẻ em đọc chưa chắc thấy hay, đó là do sự khác biệt về nhận thức, về cách nhìn nhận thế giới giữa trẻ em và người lớn. Do đó, không thể viết sách cho thiếu nhi bằng tư duy của người lớn, bằng cách nhìn nhận và quan sát thế giới của người lớn. Võ Quảng – một nhà văn được rất nhiều thế hệ độc giả yêu mến nhận định: “Nội dung của văn học thiếu nhi cũng là các vấn đề về chủ đề, đề tài, về phương pháp thể hiện, cũng là các vấn đề thể loại, về phong cách, về ngôn ngữ… Nhưng ở đây, tất cả những cái đó phải được thể hiện thế nào cho phù hợp với “đôi mắt” và “con tim” của mỗi lứa tuổi” [45, tr.
Cách thể hiện phù hợp đó chính là những sáng tác cho thiếu nhi phải dùng chính cặp mắt trẻ thơ của các em để quan sát và cảm nhận cuộc sống. Đặt mình vào thế giới của trẻ thơ, hóa thân vào trẻ thơ để nhìn nhận cuộc sống, khiến cho những sáng tác văn học thiếu nhi có được cái nhìn hồn nhiên, trong trẻo về cuộc sống và con người, và phù hợp với đối tượng tiếp nhận là các em thiếu nhi. Ví dụ như trong bài Con bê lông vàng [28, tr.45] Võ Quảng viết: Con bê lông vàng Cổ loang màu nắng Bước đi liến thoắng Miệng cứ: bê…ê…! 15 c Chỉ trong cặp mắt của trẻ thơ, thì mới có một chú bê con có cái cổ “loang màu nắng” như vậy, và cũng chỉ trong cặp mắt của trẻ thơ thì bước đi của con vật mới được diễn đạt bằng từ “liến thoắng” như thế. Rõ ràng rằng, lăng kính trẻ thơ đã giúp cho Võ Quảng viết nên những câu thơ hồn nhiên, vui tươi phù hợp với tâm lý của đối tượng tiếp nhận.
Và phải làm được điều đó thì những câu chuyện, những vần thơ mới chinh phục được những bạn đọc nhỏ tuổi. Như tác giả Phong Thu đã nói “Sống với cuộc sống của trẻ em để có thể viết được những trang viết cho các em, đối với tôi, là một yêu cầu, một cách để viết không thể nào lảng tránh, nếu như tôi muốn tiếp tục “chơi” với các em bằng những dòng chữ của mình” [45, tr.