Then Tày Ở Ba Bể Bắc Kạn Và Vấn Đề Giáo Dục Học Sinh Phổ Thông

Luận văn thạc sĩ giáo dục phân tích hay then tày ở ba bể bắc kạn và vấn đề giáo dục học sinh phổ thông, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Văn Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2020

148
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI TÀY, THEN TÀY Ở BA BỂ, BẮC KẠN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN

1.1. Điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội, đời sống văn hóa của người Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn

1.2. Điều kiện tự nhiên. Đặc điểm lịch sử

1.3. Đời sống văn hóa - xã hội

1.4. Khái quát về Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn. Khái niệm, nguồn gốc

1.5. Quá trình phát triển

1.6. Diễn xướng Then Tày

1.7. Vai trò của văn hóa, văn học trong việc giáo dục học sinh

1.8. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA THEN TÀY Ở BA BỂ, BẮC KẠN

2.1. Nội dung của Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn

2.2. Then Tày phản ánh đời sống của người Tày

2.3. Then ca ngợi phẩm chất tốt và phê phán những thói xấu

2.4. Nghệ thuật Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THEN TÀY Ở BA BỂ, BẮC KẠN VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HỌC SINH PHỔ THÔNG

3.1. Thực trạng giáo dục học sinh phổ thông ở Ba Bể qua Then Tày

3.2. Kết quả khảo sát

3.3. Những mặt tích cực. Một số hạn chế

3.4. Đề xuất hoạt động giáo dục Then Tày cho học sinh phổ thông ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

3.4.1. Cơ sở, nguyên tắc, quy trình

3.4.2. Đề xuất hoạt động giáo dục: Thành lập “Câu lạc bộ hát Then và đàn Tính” ở trường THPT Ba Bể

3.5. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo dục học sinh phổ thông qua văn hóa Then Tày

Giáo dục học sinh phổ thông là một nhiệm vụ quan trọng trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Việc tích hợp văn hóa Then Tày vào chương trình giáo dục không chỉ giúp học sinh hiểu biết về di sản văn hóa dân tộc mà còn góp phần phát triển nhân cách và bản sắc văn hóa. Văn hóa Then Tày, với những giá trị nghệ thuật và tinh thần sâu sắc, có thể trở thành một công cụ giáo dục hiệu quả, giúp học sinh phát triển toàn diện.

1.1. Khái quát về văn hóa Then Tày và vai trò trong giáo dục

Văn hóa Then Tày là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Tày. Nó không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm mà còn chứa đựng những bài học quý giá về đạo đức, lối sống. Việc đưa văn hóa Then vào giáo dục giúp học sinh nhận thức rõ hơn về giá trị văn hóa dân tộc.

1.2. Lợi ích của việc giáo dục học sinh qua văn hóa Then Tày

Giáo dục qua văn hóa Then Tày giúp học sinh phát triển kỹ năng sống, tư duy phản biện và khả năng sáng tạo. Học sinh sẽ được trải nghiệm thực tế, từ đó hình thành những giá trị nhân văn và lòng tự hào về bản sắc dân tộc.

II. Thách thức trong việc giáo dục học sinh phổ thông qua văn hóa Then Tày

Mặc dù văn hóa Then Tày có nhiều giá trị, nhưng việc đưa nó vào giáo dục học sinh phổ thông vẫn gặp phải nhiều thách thức. Sự thiếu hụt tài liệu, sự quan tâm chưa đầy đủ từ các cấp quản lý và sự thay đổi trong nhu cầu giáo dục hiện đại là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Thiếu tài liệu và nguồn lực cho giáo dục văn hóa Then Tày

Nhiều giáo viên và học sinh vẫn chưa có đủ tài liệu để tìm hiểu về văn hóa Then Tày. Việc thiếu nguồn lực và tài liệu giảng dạy đã làm giảm hiệu quả của việc giáo dục văn hóa này.

2.2. Sự quan tâm chưa đầy đủ từ các cấp quản lý

Chưa có nhiều chính sách cụ thể để hỗ trợ việc giáo dục văn hóa Then Tày trong trường học. Điều này dẫn đến việc giáo viên và học sinh không nhận được sự hỗ trợ cần thiết trong việc tìm hiểu và thực hành văn hóa này.

III. Phương pháp giáo dục học sinh qua văn hóa Then Tày hiệu quả

Để giáo dục học sinh phổ thông qua văn hóa Then Tày đạt hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy sáng tạo và phù hợp. Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ văn hóa sẽ giúp học sinh tiếp cận văn hóa một cách sinh động và thực tế hơn.

3.1. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa liên quan đến văn hóa Then Tày

Các hoạt động ngoại khóa như lễ hội, buổi biểu diễn hát Then sẽ giúp học sinh trải nghiệm trực tiếp văn hóa. Điều này không chỉ tạo ra sự hứng thú mà còn giúp học sinh ghi nhớ kiến thức lâu hơn.

3.2. Thành lập câu lạc bộ văn hóa Then Tày trong trường học

Câu lạc bộ văn hóa Then Tày sẽ là nơi để học sinh giao lưu, học hỏi và thực hành. Qua đó, học sinh có thể phát triển kỹ năng biểu diễn, sáng tác và tìm hiểu sâu hơn về văn hóa dân tộc.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về giáo dục văn hóa Then Tày

Nghiên cứu cho thấy việc giáo dục học sinh qua văn hóa Then Tày đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Học sinh không chỉ nâng cao nhận thức về văn hóa dân tộc mà còn phát triển kỹ năng sống và tư duy sáng tạo.

4.1. Kết quả khảo sát về nhận thức của học sinh

Khảo sát cho thấy đa số học sinh có nhận thức tốt về văn hóa Then Tày và mong muốn tìm hiểu thêm. Điều này cho thấy sự quan tâm của học sinh đối với văn hóa dân tộc.

4.2. Những mặt tích cực trong giáo dục văn hóa Then Tày

Việc giáo dục văn hóa Then Tày đã giúp học sinh phát triển nhân cách, nâng cao lòng tự hào về bản sắc dân tộc. Học sinh cũng trở nên tích cực hơn trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật.

V. Kết luận và tương lai của giáo dục học sinh qua văn hóa Then Tày

Giáo dục học sinh phổ thông qua văn hóa Then Tày không chỉ là nhiệm vụ của nhà trường mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp quản lý, giáo viên và cộng đồng để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa này.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa Then Tày

Bảo tồn văn hóa Then Tày là cần thiết để gìn giữ bản sắc dân tộc. Việc giáo dục học sinh về văn hóa này sẽ giúp thế hệ trẻ hiểu và trân trọng di sản văn hóa của cha ông.

5.2. Định hướng phát triển giáo dục văn hóa Then Tày trong tương lai

Cần xây dựng các chương trình giáo dục cụ thể, kết hợp với các hoạt động thực tiễn để nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa Then Tày. Sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội cũng rất quan trọng trong việc này.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay then tày ở ba bể bắc kạn và vấn đề giáo dục học sinh phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về ngƣời Tày, Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn và một số vấn đề lí luận Chƣơng 2: Nội dung và nghệ thuật của Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn Chƣơng 3: Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn với vấn đề giáo dục học sinh phổ thông 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ NGƢỜI TÀY, THEN TÀY Ở BA BỂ, BẮC KẠN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 1. Điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội, đời sống văn hóa của ngƣời Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn 1. Điều kiện tự nhiên Ba Bể là một huyện miền núi thuộc tỉnh Bắc Kạn. Huyện đƣợc đổi tên từ huyện Chợ Rã cũ vào ngày 6 tháng 11 năm 1984, khi đó thuộc tỉnh Cao Bằng.

Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Bắc Kạn đƣợc tái lập từ tỉnh Bắc Thái, huyện Ba Bể đƣợc chuyển từ tỉnh Cao Bằng về tỉnh Bắc Kạn quản lí. Huyện nằm ở phía tây bắc tỉnh Bắc Kạn, phía bắc và đông bắc giáp huyện Pắc Nặm, phía tây giáp huyện Na Hang (Tuyên Quang), tây nam là huyện Chợ Đồn, phía nam là huyện Bạch Thông và Ngân Sơn ở phía đông. Huyện có diện tích 684,09 km². Huyện lị là thị trấn Chợ Rã nằm trên quốc lộ 279, cách thành phố Bắc Kạn khoảng 50 km về hƣớng tây bắc.

Ngoài trục đƣờng chính là quốc lộ 279, còn có các con đƣờng tỉnh lộ 254 đi về huyện Chợ Đồn, tỉnh lộ 201 đi về huyện Bạch Thông ở phía nam và đƣờng liên tỉnh 212 sang Cao Bằng ở phía bắc. Huyện có 15 đơn vị hành chính, gồm 14 xã và 01 thị trấn với 200 thôn bản. Dân số toàn huyện có gần 48.325 ngƣời (Theo số liệu tổng điều tra dân số ngày 01/4/2019 của Kho dữ liệu điện tử dân cƣ, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Bắc Kạn), trong đó có: dân tộc Kinh là 2506 ngƣời (5,2%), dân tộc Tày là 27.255 ngƣời (56,4%), dân tộc Nùng là 2309 ngƣời (4,8%), dân tộc Mông là 3821 ngƣời (7,9%), dân tộc Dao là 12. Nhƣ vậy ở huyện Ba Bể, có tới 94,8% là ngƣời dân tộc thiểu số, trong đó ngƣời dân tộc Tày chiếm số lƣợng đông hơn cả với 56,4%.

Địa hình Huyện Ba Bể chủ yếu là đất lâm nghiệp chiếm trên 80%, đất nông nghiệp chiếm 10%. Huyện có địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi sông, suối, núi nên giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các thôn bản vùng cao. Ở đây chủ yếu 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là núi cao xen lẫn những khối núi đá vôi hiểm trở, phân lớp dầy, trong quá trình cacxtơ tạo thành những hình dạng kỳ thú, đặc trƣng là dãy núi Phja Bjooc có độ cao 1.578m, là mái nhà của 03 huyện: Ba Bể, Chợ Đồn, Bạch Thông. Cùng với đó, trên địa bàn huyện có 2 con sông là sông Năng và sông Chợ Lùng chảy qua.

Sông Năng bắt nguồn từ dãy núi cao Phja Giạ (thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng) chảy vào địa phận huyện Ba Bể từ xã Bành Trạch theo hƣớng Đông - Tây; sông Chợ Lùng bắt nguồn từ phía Nam huyện Ba Bể theo hƣờng Đông Nam - Tây Bắc sau đó đổ vào hồ Ba Bể rồi thông ra sông Năng; cánh cung sông Gâm chạy dài theo hƣớng Đông Bắc - Tây Nam, xuyên suốt địa giới của huyện với nhiều ngọn núi cao trùng điệp đã tạo nên địa hình hiểm trở rất đặc trƣng của huyện Ba Bể. Ngoài ra, trên địa bàn Ba Bể có nhiều tuyến giao thông chạy qua nhƣ: Quốc lộ 279, tỉnh lộ 201, 254… Hiện nay, 14/14 xã ở Ba Bể có đƣờng ô tô về đến trung tâm xã. Khí hậu Nhiệt độ trung bình năm từ 21oC - 23oC, là vùng khuất gió mùa đông bắc, nhƣng lại đón gió mùa Tây Nam nên ở Ba Bể thƣờng mƣa nhiều, lƣợng mƣa trung bình hơn 1.600 mm và có thảm thực vật phong phú. Vùng hồ Ba Bể và sƣờn núi Phja Bjoóc gần nhƣ mát mẻ quanh năm.

Tuy nhiên đôi khi thời tiết cũng rất khắc nghiệt. Mùa đông ở Ba Bể thƣờng có sƣơng muối, băng giá hoặc có những đợt mƣa phùn, gió bấc kéo dài không có lợi cho sự sinh trƣởng của động, thực vật, ảnh hƣởng tới hoạt động, sức khoẻ con ngƣời. Mùa mƣa, nhiều xã ven sông Năng thƣờng bị ngập lụt nên ảnh hƣởng tới hoạt động sản xuất nông nghiệp đáng kể. Nhƣng bởi nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, ở độ cao từ 500 - 1000m so với mặt biển, Ba Bể có đủ nhiệt độ, nắng, mƣa.

thích hợp cho sự phát triển của động vật, thực vật, thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp vốn là nghề chủ yếu của địa phƣơng, đặc biệt rất thích hợp để ngƣời dân nơi đây trồng cây bầu - loại cây vừa để cung cấp thức ăn cho nhân dân vừa cho quả để những nghệ nhân nơi đây sử dụng tạo nên những cây đàn tính phục vụ hoạt động nghi lễ, hoạt động văn nghệ, du lịch ở địa phƣơng. Sông ngòi Ba Bể có nhiều sông, suối, lòng sông suối thƣờng sâu, để có nƣớc tƣới cho đồng ruộng, nhất là các chân ruộng bậc thang, đồng bào các dân tộc có nhiều kinh 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệm làm mƣơng, phai, bắc máng, làm guồng nƣớc. Đồng bào còn lợi dụng sức nƣớc để phục vụ sản xuất, đời sống nhƣ cối giã gạo, máy bật bông, làm thuỷ điện mi ni, xuôi mảng. Với đặc điểm về sông ngòi nhƣ vậy rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp, giao thông đƣờng thủy.

Đƣờng thuỷ sông Năng phối hợp với các đƣờng bộ tạo nên hệ thống giao thông tƣơng đối thuận lợi thông thƣơng giữa các huyện Ba Bể, huyện Chợ Đồn, Na Hang (Tuyên Quang). Hơn nữa dòng sông Năng với động Puông, thác Đầu Đẳng cũng đã góp phần không nhỏ để huyện Ba Bể phát triển tiềm năng du lịch. Nhiều du khách vừa ngồi thuyền xuôi sông Năng ngắm cảnh, vừa đƣợc lắng nghe những chàng trai, cô gái dân tộc Tày bản địa gảy đàn tính, hát Then với âm điệu réo rắt, chạm tới trái tim, để rồi đi xa mà vẫn nhớ mãi. Tài nguyên thiên nhiên Ở Ba Bể tập trung nhiều loại khoáng sản nhƣ: Vàng gốc (nguyên sinh) và vàng sa khoáng, khoáng sắt và sắt - mangan, đá vôi biến chất thành đá hoa nhƣ xung quanh hồ Ba Bể, sắt, mangan ở Bản Nùng.

Ngoài ra còn có đá quý ở Bản Đuống, Bản Vàng… Đất Ba bể có thể trồng nhiều loại cây thƣơng phẩm có giá trị kinh tế cao nhƣ: hồng không hạt, hoa lily, ngô, đậu tƣơng, trúc. Hiện tại, Ba Bể đã phát triển đƣợc hơn 1.000 ha mơ, mận, dứa. Đất đai ở Ba Bể cũng thích hợp cho việc chăn nuôi đại gia súc nhƣ: trâu, bò, dê. Núi đá xen lẫn núi đất chiếm phần lớn diện tích đất đai tự nhiên.

Rừng có nhiều gỗ quý (đinh, lim, nghiến, táu…) cùng nhiều cây dƣợc liệu và nhiều loại chim muông, thú rừng nhƣ phƣợng hoàng, công, trĩ, hƣơu, nai, sơn dƣơng, khỉ, lợn rừng, kỳ đà… Do kiến tạo địa chất, sự bồi đắp của các con sông, suối đã tạo cho Ba Bể những bồn địa, những thung lũng lòng máng, lòng chảo, đất đai khá màu mỡ thích hợp với việc trồng lúa, ngô, các loại rau, đậu, cây công nghiệp (mía, bông và cây ăn quả (cam, quýt, chuối, hồng). Đặc biệt, Vƣờn Quốc gia Ba Bể là một di sản thiên nhiên quý giá với hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi có tới 417 loài thực vật và 299 loài động vật có xƣơng sống. Nhiều loài động vật quý vẫn còn lƣu giữ đƣợc nhƣ phƣợng hoàng đất, gà 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lôi, vọc mũi hếch… Trong hồ vẫn còn 49 loài cá nƣớc ngọt, trong đó có một số loài cá quý hiếm nhƣ cá chép kính, cá rầm xanh, cá chiên… Cùng với đó, hồ Ba Bể rộng gần 500ha gắn liền với dòng sông Năng và hệ thống hang động, thác nƣớc thiên nhiên kì vĩ trở thành khu danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở khu vực miền núi phía Bắc. Những năm gần đây, hoạt động du lịch ở Ba Bể phát triển mạnh, thu hút đƣợc rất nhiều lƣợt khách du lịch trong và ngoài nƣớc đến thƣởng ngoạn cảnh trí.

Điều đó cũng tạo ra cơ hội thuận lợi để những đoàn văn nghệ dân tộc phát huy đƣợc năng lực sở trƣờng của mình, đem những làn điệu then, lƣợn, phong slƣ,… của dân tộc đến với nhiều nơi trên đất nƣớc Việt Nam và bạn bè thế giới. Cũng nhờ thế mà Then Tày càng đƣợc chú ý gìn giữ, phát triển mạnh mẽ hơn. Đặc điểm lịch sử Theo các tài liệu sƣu tầm, trong lịch sử phát triển, huyện Ba Bể cũng đã trải qua nhiều bƣớc thăng trầm. Thời Lý, huyện Ba Bể ngày nay thuộc đất huyện Vĩnh Thông; thời Lê, nằm ở châu Bạch Thông thuộc phủ Thông Hoá.

Thị trấn Chợ Rã là huyện lị Ba Bể, đồng bào địa phƣơng gọi là Chợ Slo. Tên gọi Chợ Rã xuất hiện sớm trong lịch sử, đƣợc nêu trong Dƣ địa chí của Nguyễn Trãi và sau đó nêu ở Đại Nam nhất thống chí, trong mục Thái Nguyên thổ sản. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), tỉnh Thái Nguyên đƣợc thành lập, địa bàn Chợ Rã thuộc đất Thái Nguyên. Trong những năm từ 1884 đến 1888, thực dân Pháp lần lƣợt đem quân đánh chiếm các tỉnh Việt Bắc.

Sau khi hoàn thành công cuộc chinh phục và bình định căn bản khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc, để thống trị và bóc lột nhân dân các dân tộc miền núi đạt ý đồ của Pháp, ngày 11/4/1900, toàn quyền Đông Dƣơng ra nghị định tách một phần đất thuộc tỉnh Thái Nguyên thành lập tỉnh Bắc Kạn gồm 4 châu: Bạch Thông, Chợ Rã, Thông Hoá (sau đổi thành Na Rì) và Cảm Hoá (sau đổi thành Ngân Sơn). Ngày 25/6/1901, thực dân Pháp sáp nhập địa giới tổng Yên Đĩnh, huyện Phú Lƣơng (Thái Nguyên) vào châu Bạch Thông (Bắc Kạn). Đến ngày 08/6/1916, thực dân Pháp lại tách một số tổng thuộc châu Bạch Thông và châu Chợ Rã để thành lập châu Chợ Đồn. Do vậy, trƣớc năm 1901, trong sự phân chia địa giới, địa phận Ba Bể có cả một số địa phƣơng châu Chợ Đồn.

Trong thời thuộc Pháp, châu Chợ Rã chiếm khoảng 115km2. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1942, phong trào Việt Minh đƣợc củng cố và mở rộng căn cứ ở Cao - Bắc - Lạng, đồng thời mở con đƣờng Nam tiến, các xã phía Đông Chợ Rã (Hà Hiệu, Bành Trạch, Phúc Lộc…) phát triển mạnh mẽ phong trào Việt Minh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giáo Dục Học Sinh Phổ Thông Qua Văn Hóa Then Tày Ở Ba Bể Bắc Kạn" khám phá vai trò của văn hóa Then Tày trong việc giáo dục học sinh phổ thông tại khu vực Ba Bể, Bắc Kạn. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp văn hóa địa phương vào chương trình giáo dục, giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn hiểu và trân trọng di sản văn hóa của dân tộc mình. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức mà văn hóa có thể được sử dụng như một công cụ giáo dục hiệu quả, từ đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với văn hóa dân tộc.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến văn hóa và giáo dục, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn thạc sĩ tôn giáo học sự dung hợp giữa phật giáo và tín ngưỡng bản địa, nơi nghiên cứu sự giao thoa giữa các tín ngưỡng trong giáo dục. Bên cạnh đó, Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu chầu văn nam định cũng mang đến cái nhìn về vai trò của văn hóa trong giáo dục và phát triển cộng đồng. Cuối cùng, Luận văn truyện kể bác ba phi di sản văn hóa phi vật thể sẽ giúp bạn hiểu thêm về việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong giáo dục. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về mối liên hệ giữa văn hóa và giáo dục.