Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về “Văn minh, văn hóa nghề kho bạc” Chương 2: Thực trạng thực hiện Tiêu thức “Văn minh, văn hóa nghề” tại KBNN Hải Dương Chương 3: Đề xuất giải pháp đẩy mạnh thực hiện tiêu thức “Văn minh, văn hóa nghề” tại KBNN Hải Dương 3. Danh mục tài liệu tham khảo 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ “VĂN MINH, VĂN HÓA NGHỀ KHO BẠC” 1.1 – Khái niệm về “Văn minh, văn hóa nghề Kho bạc” Kho bạc Nhà nước là một đơn vị hành chính nhà nước cho nên văn hóa trong KBNN cũng là VHCS, mang đầy đủ những yếu tố cơ bản của VHCS hành chính nhà nước. Theo yêu cầu chung của Đảng, Nhà nước và xã hội, KBNN - cũng giống như các đơn vị hành chính nhà nước khác, cần phải xây dựng VHCS. Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu: Công sở là gì? VHCS là gì? Công sở là một tổ chức đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Nhà nước, có tư cách pháp nhân, được pháp luật Nhà nước điều chỉnh để tiến hành quản lý các công việc có tính chuyên ngành và phục vụ lợi ích công [14].
Công sở là nơi mà các công chức, viên chức làm việc, thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và nhân dân, là nơi để mọi người cùng lao động, suy nghĩ để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Nói đến công sở là nói đến văn minh công sở, nếp sống, ý thức và bản lĩnh sống của mỗi người trong công sở ấy. Do đó, công sở luôn có những quy chế, quy định riêng để mọi người cùng tuân thủ, thực hiện, tạo nên sự thống nhất trong công việc, trong ý chí và hành động. Bên cạnh đó, yêu cầu được đặt ra đối với mỗi công sở rất khắt khe, một công sở đạt tiêu chuẩn phải là nơi có môi trường tốt về ngoại cảnh, nội thất và các phương tiện làm việc.
Đặc biệt, đó phải là nơi mà môi trường văn hóa được đề cao, trong đó, mỗi thành viên sống và làm việc trên tinh thần tự giác chấp hành quy định của cơ quan, sống có văn hóa, có kỷ cương và tôn trọng pháp luật, tôn trọng lẫn nhau để sao cho mỗi cá nhân phát huy hết được năng 8 lực sáng tạo, tính độc lập, tự chủ trong công việc, để hoàn thành nhiệm vụ được giao với chất lượng cao nhất. Công sở được phân biệt với các tổ chức xã hội khác xét trên nội dung công việc và hình thức tổ chức. Xét về nội dung công việc: - Hoạt động hướng ra bên ngoài của công sở là một loại hoạt động nhằm thoả mãn các lợi ích chung của nhân dân, được Nhà nước bảo vệ và có cơ chế kiểm tra của Nhà nước - Hoạt động hướng nội bộ là nhằm đảm bảo nhu cầu làm việc của cán bộ công chức, người lao động, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của cán bộ công chức, tạo mọi điều kiện cho họ hoàn thành trách nhiệm của mình. Xét về hình thức tổ chức: - Công sở là một thiết chế tổ chức, là tập hợp có tổ chức, được Nhà nước bảo đảm về nguồn lực (vật chất và con người) để thực hiện nhiệm vụ và đạt được mục tiêu của tổ chức.
Nhà nước quy định hình thức tổ chức của công sở, và hoạt động của công sở bị lệ thuộc vào phương thức điều hành của bộ máy nhà nước. Công sở là trụ sở làm việc của tổ chức, cơ quan nhà nước, do Nhà nước lập ra và công sở được phép dùng quyền lực công để giải quyết công vụ. - Công sở là một thiết chế xã hội - văn hoá chỉ có ở xã hội loài người. Công sở trong xã hội loài người tồn tại như một hiện tượng văn hoá đồng thời là một chủ thể văn hoá gắn liền với các yếu tố tổ chức quyền lực và tâm lý, tình cảm của con người.
Nhưng như vậy không thể đồng nhất công sở với tư cách là chủ thể văn hoá với VHCS - một thực thể văn hoá của xã hội. Quan niệm VHCS ở mỗi thời đại lịch sử, mỗi chế độ chính trị, mỗi quốc gia khác nhau thì đều có quan niệm khác nhau. Trên thế giới hiện nay, người ta nhắc nhiều đến văn hoá tổ chức. Văn hoá tổ chức được thể hiện dưới 9 các hệ thống giá trị, niềm tin, sự mong đợi của các thành viên trong tổ chức, trong đó mọi hoạt động tuân theo những chuẩn mực mang tính truyền thống và những thói quen có khả năng mang bản sắc riêng mà mọi thành viên trong tổ chức tuân theo một cách tự nguyện.
Văn hóa tổ chức giúp chúng ta nhìn thấy được sự khác nhau giữa các tổ chức khác nhau. Xét trên ý nghĩa công sở là một tập hợp có tổ chức dựa trên quan hệ thứ bậc: cấp trên - cấp dưới, thành viên - thành viên, thành viên - nhân dân, (đây chính là mối quan hệ ràng buộc của 3 nhóm yếu tố: quyền lực - phục tùng; nhu cầu - phục vụ; hiệu lực - hiệu quả), có thể nói VHCS xuất phát từ chính vai trò của công sở trong đời sống xã hội và trong hoạt động của bản thân bộ máy hành chính. Như vậy, có thể hiểu VHCS là một dạng đặc thù trong hoạt động công sở (HĐCS) mà các thành viên trong công sở cùng tiếp nhận để ứng xử với nhau trong nội bộ công sở, trong đời sống gia đình ngoài công sở với tư cách là những người bạn, người đồng nghiệp, và phục vụ cộng đồng với sự tác động của hệ thống quan hệ thứ bậc mang tính quyền lực và tính xã hội. Các thành viên trong công sở gắn bó với nhau bằng sự chi phối của cơ cấu tổ chức, công việc, lợi ích, tình cảm mang tính nhân bản sâu xa (phục tùng, tôn trọng, tự nguyện làm việc, trách nhiệm, vô tư không vụ lợi cộng đồng…).
VHCS như một môi trường văn hoá đặc thù với những giá trị chuẩn mực văn hoá chi phối mọi hoạt động, các quan hệ trong nội bộ công sở cũng như đối với công dân với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước hay một cơ quan sự nghiệp, dịch vụ công. Thực chất, VHCS là biểu hiện của văn hóa tổ chức tại nơi làm việc và ngoài nơi làm việc, tình cảm, sự gắn bó giữa những người đồng nghiệp được gia tăng lên nhiều sau những chuyến cùng nhau đi tham quan du lịch, thăm hỏi, chúc mừng, động viên nhau mỗi khi có chuyện vui, chuyện buồn, khi đau ốm, lúc hoạn nạn,… 10 Xét trên ý nghĩa công sở là một trụ sở công, nơi có đầy đủ mọi điều kiện, phương tiện để thực thi công vụ, thì các sản phẩm vật chất như công trình kiến trúc, thiết kế nhà cửa, phòng làm việc, bố trí trang trí nội thất, ánh sáng, màu sắc phù hợp, từ hình thức của các cách lễ tân giao tiếp với các loại khách khác nhau bằng các cuộc chiêu đãi khác nhau… hay cách trang phục, ăn mặc của CBCC, tất cả đều thể hiện màu sắc văn hoá đặc thù của mỗi quốc gia, mỗi địa phương và mỗi cơ quan, công sở. Khái niệm VHCS thường bị đánh đồng với khái niệm học vấn và khái niệm văn minh trong công sở. Tuy nhiên, VHCS không thể đồng nhất với trình độ học vấn của cán bộ công chức.
Việc nâng cao trình độ học vấn cho CBCC chính là điều kiện để mở mang trí tuệ và tâm hồn con người, vươn lên trình độ văn hoá cao hơn. Nhưng một thực trạng đáng buồn hiện nay là một số CBCC có trình độ học vấn cao nhưng trình độ văn hoá lại quá thấp, biểu hiện như: không giữ được giá trị nhân cách của con người, cả về giá trị tinh thần và giá trị vật chất, có lối sống tham ô, lãng phí, đục nước béo cò; trong quan hệ nhân sự còn thiếu cái chân - thiện - mỹ; trong quan hệ công vụ đã để mất niềm tin của đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới và nhân dân; trong sự phát triển đã mất đi giá trị truyền thống dân tộc là đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “lá lành đùm lá rách” của dân tộc Việt Nam. Mặt khác, cũng không thể đồng nhất văn minh công sở với VHCS. Ở các nước phát triển trên thế giới hiện nay, người ta hay nói đến văn minh trong công sở, đó là sự thể hiện của trình độ phát triển của các cơ quan nhà nước ứng với sự phát triển của từng nhà nước đạt tới một thời kỳ lịch sử nhất định.
Về mặt nghĩa gốc của từ “văn minh” trong tiếng Hán có nghĩa là làm cho vẻ đẹp được hiện ra và chiếu sáng (văn – vẻ đẹp, minh – sáng) [2]. Khái niệm “văn minh” hiện nay được dùng với nghĩa chính là chỉ trình độ phát triển của con người và xã hội trên các mặt cơ bản của nó như khoa học, kỹ 11 thuật và tổ chức, quản lý,. hay ngắn gọn hơn, “văn minh” đo lường trình độ phát triển của phương thức sản xuất và có tính quốc tế. “Văn minh” khác “văn hóa”, văn minh cho biết trình độ phát triển của văn hóa, nhưng văn hóa lại là nhân tố, là khía cạnh của sự phát triển xã hội, nó có tính quy định đối với các nền văn minh [18].
Văn hóa được kết tinh qua bề dày của quá khứ, nó tiêu biểu cho giá trị truyền thống, còn văn minh lại biểu thị cho hiện tại và tương lai của các dân tộc, các quốc gia. Nói tới VHCS là nói tới việc phát huy những năng lực, bản chất của cán bộ nhân viên trong công sở nhằm hoàn thiện chế độ công vụ, công chức. Mỗi công sở là một thế giới thu nhỏ với các cơ cấu, chuẩn mực quy tắc hoạt động, giá trị, điểm mạnh và điểm yếu riêng. Mỗi cơ quan, công sở có một nền văn hoá tồn tại, có thể tồn tại một cách vô ý thức.
Khi đặt chân vào bất kỳ cơ quan, công sở nào, chúng ta thường nhận thấy một sắc thái đặc trưng riêng của nó qua một loạt các biểu hiện hành vi, ngôn ngữ, cách trang trí và bố trí nơi làm việc, cung cách làm việc và sự ứng xử giữa người với người trong hoạt động công vụ.