đặt vấn đề: “Lắm khi chữ hiếu đặt trước cả chữ trung, đạo hiếu được xem là nền của đạo trung”, “trung hiếu là hai đức tính cơ bản của con người mà luân lý Nho giáo đòi hỏi một cách nghiêm khắc. Đánh giá con người, nhận xét hành vi, tất thảy đều lấy trung hiếu làm tiêu chuẩn” [35, tr. Tác giả nghiên cứu Nho giáo trên phương diện tư tưởng chứ chưa nhấn mạnh vai trò Nho giáo tới đời sống văn học. Trong những năm sau đó, giới nghiên cứu quan tâm nhiều, nghiên cứu hệ thống hơn về loại hình nhà nho, tiêu biểu như Nguyễn Khắc Viện, Trần Đình Hượu, Quang Đạm.
Nguyễn Khắc Viện với công trình Bàn về Đạo Nho đã phân tích những giá trị tích cực cũng như những hạn chế lịch sử của Đạo Nho, mối quan hệ của Đạo Nho với truyền thống văn hóa Việt Nam, trong đó có đề cập yếu tố “nghĩa”. Tác giả cũng đề cập mẫu hình con người, sự kết hợp Đông - Tây của con người Việt Nam trên con đường hội nhập với thế giới, làm rõ một “đạo lý” đẹp đẽ và chung thủy của người sĩ phu trung thực, hết lòng vì nước, vì dân. Đặc biệt Trần Đình Hượu với các bài viết “Mấy ý kiến bàn về vấn đề nghiên cứu Nho giáo”, “Nho giáo và văn học nghệ thuật” (đã được tập hợp trong sách Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại), quan tâm đến mối quan hệ giữa văn học và Nho giáo với nhiều nhận định sâu sắc: “Nho giáo chi phối văn học nghệ thuật… hình thành trong lịch sử cả vùng một loại hình văn sĩ, nghệ sĩ, một loại hình văn học nghệ thuật, viết cùng những thể loại, theo cùng một quan niệm văn học” [100, tr. Bàn về ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học nghệ thuật, Trần Đình Hượu xác định thêm: “Nho giáo gây ra tác dụng kìm hãm nặng nề đối với văn học nghệ thuật… Ngự trị lâu dài như thế văn học nghệ thuật của Nho giáo tác động rất mạnh đến truyền thống của các dân tộc” [100, tr.
Từ sau ngày thống nhất đất nước, việc nghiên cứu văn học sử có những thay đổi lớn, đem lại cái nhìn mới và góp thêm tiếng nói phong phú và đa dạng về văn học nửa sau thế kỷ XIX. Gần đây, Phương Lựu với tham luận “Khái quát về quan niệm văn học Nho giáo ở Việt Nam” tại Hội thảo quốc tế do Viện Hán Nôm Việt Nam và Viện Harward-Yenching Hoa Kỳ tổ chức (2004) tại Hà Nội nhận diện “ảnh hưởng của Nho 8 giáo đối với văn học Việt Nam trung cận đại” theo hướng miêu tả cụ thể - điều mà học thuật đang quan tâm. Thực ra, việc nghiên cứu về Nho giáo suốt một thời kỳ dài ở nước ta bị “trì trệ” khá lâu sau những công trình có tính chất mô tả tổng quan của Trần Trọng Kim (viết năm 1928 và in 2-3 lần năm 1932). Mặc dù, sách của Trần Trọng Kim chỉ có tính mô tả nhưng nó lại mang tính nhập môn rất cần thiết,… Sau đó có một số bài viết, một số người phê bình theo nghĩa là đối thoại, bàn luận thêm.
Trong đó Đào Duy Anh với cuốn Khổng giáo phê bình tiểu luận được coi là “công trình đầu tiên và có lẽ là duy nhất trước Cách mạng tháng Tám đã thử vận dụng thế giới quan Mác-xít để khảo sát và đánh giá Nho giáo” (Dẫn theo nhận xét của Trần Ngọc Vương, https://baomoi.com/pgs- ts-tran-ngoc-vuong-thuong-phai-chinh/c/7583940. Về văn học nửa sau thế kỷ XIX có thể kể tên một số công trình tiêu biểu như Lịch sử văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX của Nguyễn Lộc [116]; Lịch sử văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX của tập thể tác giả Đại học Sư phạm I (Lê Trí Viễn, Phan Côn, Nguyễn Đình Chú, Huỳnh Lý, Lê Hoài Nam [203]; “Lời giới thiệu” của Trần Văn Giàu trong Hợp tuyển thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX [55]. Trần Văn Giàu đề cập tư tưởng chủ đạo trong sáng tác của các nhà nho yêu nước giai đoạn này, là: “việc nghĩa phải làm, không kể đến thành bại”, “tư tưởng trung quân: hình ảnh vua càng mờ xuống, vị trí dân càng lên cao” [55, tr. Cũng Trần Văn Giàu, trong công trình Tư tưởng yêu nước trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam [39] với bài viết “Nguyễn Đình Chiểu: đạo làm người”, tác giả nêu khái niệm về “Nghĩa”: “là lẽ phải; Gặp việc nghĩa phải làm, không làm không dũng, mà làm người thì phải dũng, không dũng không ra người; Làm việc nghĩa không suy tính lợi hại, làm việc nghĩa mà dù có thiệt cho riêng mình, có chết đi nữa cũng cứ phải làm; Làm việc nghĩa không cần báo đáp” [39, tr.
Ông có những đánh giá khái quát vấn đề trung nghĩa giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX, tuy nhiên đấy chưa phải là công trình nghiên cứu tư tưởng trung nghĩa, con người trung nghĩa trong văn học. Công trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX của Nguyễn Lộc [117], viết về hai giai đoạn hết sức quan trọng trong văn học Việt Nam trung đại: một giai đoạn đỉnh cao, một giai đoạn là bước chuyển mình của văn học dân tộc từ trung đại sang cận, hiện đại. Quyển sách trình bày quá trình phát triển văn học Việt Nam qua hai giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, và giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX. Theo tác giả, văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX thể hiện bằng thơ văn yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược và bọn tay sai bán nước; văn học mang tính tố cáo hiện thực sâu sắc; văn học có những đổi mới khác hẳn so với giai đoạn trước (nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX).
Nguyễn Lộc cũng phân chia các khuynh hướng văn học và dành 6 chương giới thiệu, khái quát 6 9 tác giả là nhà nho: Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương. Công trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930 của Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng [98] xem giai đoạn văn học 1900 - 1930 như một sự chuyển hóa, chuẩn bị cho sự ra đời văn học Việt Nam hiện đại. Theo các tác giả, tính chất giao thời biểu hiện ở sự tồn tại song song hai nền văn học cũ và mới với hai lực lượng sáng tác; hai công chúng với hai quan niệm văn học, hai ngôn ngữ văn học ở hai địa bàn khác nhau. Trần Đình Hượu với công trình Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại [100] cho rằng để hiểu hơn nhà nho Việt Nam cần phải đánh giá sự tiếp xúc của họ với Nho giáo và văn học Trung Quốc, đồng thời phải lưu ý đến tình hình phát triển không đồng đều của các vùng đất nước.
Về nhà Nho theo Trần Đình Hượu, không nên hiểu là những người học chữ Hán, đọc sách thánh hiền, giữ đạo tam cương ngũ thường… mà cần nhìn họ như một tầng lớp xã hội, một đội ngũ có nhiều loại hình. Với công trình này, ông chia nhà nho ra làm ba loại: nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật và nhà nho tài tử. Trần Đình Hượu khảo sát một số hiện tượng văn học - những trường hợp nhà nho tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thông, Phan Bội Châu, Tản Đà,…; ảnh hưởng của Nho giáo trong văn học Việt Nam trung đại thế kỷ XV - XIX. Cuốn sách đề cập nhiều hiện tượng văn học trung cận đại Việt Nam, đặc biệt ảnh hưởng Nho giáo và nhà nho đối với văn học và ảnh hưởng đó được nhìn tập trung vào quan niệm văn học.
Cũng Trần Đình Hượu, trong bài “Về ảnh hưởng nhiều mặt của Nho giáo trong văn học Việt Nam trung cận đại”, tác giả dành nhiều tâm huyết cho việc “khảo sát văn học do nhà nho viết, viết theo quan niệm Nho giáo…” [100, tr. Theo ông: “Nho giáo ảnh hưởng tới văn học với tư cách là một học thuyết tức là một hệ thống các quan điểm về thế giới, về xã hội, về con người, về lý tưởng… cho nên cũng có một cách quan niệm văn học riêng… Theo quan niệm văn học của Nho giáo, văn học có một nguồn gốc linh thiêng, một chức năng xã hội cao cả. Nho giáo hy vọng dùng văn chương để giáo hóa, động viên, tổ chức, hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội”; “Nho giáo ảnh hưởng trực tiếp đến văn học qua thế giới quan của người viết” [100, tr.49, 50], “Nho giáo hướng văn học vào truyền đạt đạo lý chứ không phải tả và kể, phản ánh cái thực”; “Nho giáo, các nhà nho làm chủ văn học ta từ thế kỷ XV đến vài thập kỷ đầu thế kỷ XX…; “Chứng tích ảnh hưởng Nho giáo trong văn học không chỉ ở mô típ nội dung, hình ảnh, từ ngữ mà sâu xa hơn là ở quan niệm văn học, ở quan niệm cái đẹp” [100, tr. Trên nhiều phương diện, tác giả đề cập những thành tựu nghiên cứu về xã hội, con người, lý tưởng,… quan trọng là dùng văn chương để góp phần hoàn thiện con người.
Khi nghiên cứu, luận giải về Nho giáo, văn 10 chương nhà nho nói chung, tác giả đã suy ngẫm và tổng kết, khái quát lên từ vốn sống, từ sự quan sát thực tế đã có những hướng nghiên cứu một cách có hệ thống toàn bộ cấu trúc của Nho giáo và sự chi phối của nó từ trong lịch sử cho đến thời hiện đại. Trần Ngọc Vương trong các công trình Loại hình học tác giả văn học - Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam [212]; Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung [214] cho rằng “từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX… nội hàm khái niệm văn học dân tộc gần như trùng khớp với nội hàm khái niệm văn học nhà nho ở Việt Nam” [214, tr. Công trình Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX những vấn đề lý luận và lịch sử [215] được biên soạn bởi Trần Ngọc Vương (chủ biên), Trần Nho Thìn, Nguyễn Văn Thịnh, Trần Nghĩa, Đoàn Lê Giang, Kiều Thu Hoạch, Cao Tự Thanh,. Các tác giả bàn về văn học nhà nho, tìm hiểu nghiên cứu về Nho giáo, tiêu biểu là hai loại hình nhà nho ẩn dật và hành đạo, nêu sơ lược về nguồn gốc, lịch sử hình thành cũng như quan niệm, tư tưởng và cách nghĩ của hai loại hình nhà nho chính thống.