Luận án: Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX - Nguyễn Ngọc Phú

Khám phá hình tượng người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX. Phân tích giá trị và ý nghĩa văn hóa lịch sử.

Trường đại học

Trường Đại học Vinh

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

174
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

PHẠM VI NGHIÊN CỨU

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

CẤU TRÚC LUẬN ÁN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Vấn đề nghiên cứu văn học nhà nho và văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX

1.1.1.1. Về văn học nhà nho trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại nói chung

1.1.2. Vấn đề nghiên cứu con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX

1.2. Cơ sở lý thuyết của đề tài

1.2.1. Các lý thuyết nghiên cứu, tìm hiểu về con người trong văn học

1.2.2. Nho giáo và sự ảnh hưởng, chi phối đến tư tưởng nhà nho và văn học nhà nho

1.2.3. Truyền thống tư tưởng của con người Việt Nam nói chung, Nam Bộ nói riêng

1.2.4. Một số lý thuyết về nghiên cứu, phê bình văn học

1.3. Tiểu kết Chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ VAI TRÒ, VỊ THẾ CỦA VĂN HỌC NHÀ NHO NAM BỘ NỬA SAU THẾ KỶ XIX TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC DÂN TỘC

2.1. Văn học Việt Nam nói chung và văn học nhà nho nói riêng giai đoa ̣n nửa sau thế kỷ XIX

2.1.1. Văn ho ̣c nửa sau thế kỷ XIX trong lịch sử văn học dân tộc

2.1.2. Văn học nhà nho giai đoa ̣n nửa sau thế kỷ XIX

2.2. Văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX

2.2.1. Mô ̣t số giới thuyế t về văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX

2.2.2. Các khuynh hướng tư tưởng và nghê ̣ thuâ ̣t trong văn ho ̣c nhà nho Nam Bô ̣ nửa sau thế kỷ XIX

2.2.3. Vấ n đề con ngườ i trung nghi ã trong văn ho ̣c nhà nho Nam Bô ̣ nử a sau thế kỷ XIX

2.3. Tiểu kết Chương 2

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CỦA CON NGƯỜI TRUNG NGHĨA TRONG VĂN HỌC NHÀ NHO NAM BỘ NỬA SAU THẾ KỶ XIX

3.1. Quan niệm về trung nghĩa và con người trung nghĩa

3.1.1. Quan niệm về trung nghĩa, con người trung nghĩa trong ho ̣c thuyế t Nho giáo và Nho giáo triều Nguyễn

3.1.2. Quan niệm về trung nghĩa và con người trung nghĩa trong truyền thống tư tưởng dân tô ̣c

3.1.3. Quan niệm về trung nghĩa và con người trung nghĩa trong văn ho ̣c Viê ̣t Nam trung đa ̣i

3.1.4. Tư tưởng trung nghĩa và nhận thức về con người trung nghĩa trong văn ho ̣c nhà nho Nam Bô ̣ nửa sau thế kỷ XIX

3.2. Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX giữa các mố i quan hê ̣ phức ta ̣p

3.2.1. Con người trung nghĩa trong mố i quan hê ̣ với lý tưởng trung quân

3.2.2. Con người trung nghĩa trong mố i quan hê ̣ với lý tưởng ái quố c

3.2.3. Con người trung nghĩa trong mố i quan hê ̣ với lợi ích dân tô ̣c và cô ̣ng đồ ng

3.2.4. Con người trung nghĩa trước các “bài toán” của lich ̣ sử giai đoa ̣n nửa sau thế kỷ XIX

3.3. Con người trung nghĩa - một hình tượng thẩm mỹ độc đáo, vừa mang vẻ đẹp của con người “Lục tỉnh”, vừa mang vẻ đẹp thời đại

3.3.1. Vẻ đẹp của lý tưởng và tâm hồn, nhân cách

3.3.2. Vẻ đẹp của bản liñ h và sự lựa chọn ứng xử trước các thử thách lịch sử

3.3.3. Sức khái quát nghệ thuật của mẫu hình con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX

3.4. Tiểu kết Chương 3

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CON NGƯỜI TRUNG NGHĨA TRONG VĂN HỌC NHÀ NHO NAM BỘ NỬA SAU THẾ KỶ XIX

4.1. Sự lựa chọn thể loại

4.1.1. Các thể thơ

4.1.2. Các thể loại biền văn

4.1.3. Các thể văn chính luận

4.1.4. Các thể loại văn xuôi tự sự

4.1.5. Mô ̣t số thể loa ̣i văn học dân tô ̣c

4.2. Sự vận dụng bút pháp

4.2.1. Bút pháp trữ tình

4.2.2. Bút pháp trào phúng

4.3. Nghệ thuật tổ chức giọng điệu và ngôn ngữ

4.3.1. Nghệ thuật tổ chức giọng điệu

4.3.2. Nghệ thuật tổ chức ngôn ngữ

4.4. Tiểu kết Chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới Thiệu Văn Học Nhà Nho Nam Bộ Thế Kỷ XIX Tổng Quan

Văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX là một bộ phận quan trọng của văn học Việt Nam trung đại. Nó phát triển trong bối cảnh lịch sử đặc biệt, khi Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung phải đối mặt với cuộc xâm lược của thực dân Pháp. Bộ phận văn học này, tuy chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống, nhưng đã đóng góp đáng kể vào kho tàng văn học dân tộc. Các tác phẩm văn học nhà nho giai đoạn này phản ánh sâu sắc đời sống xã hội, tư tưởng, tình cảm của người dân Nam Bộ, đặc biệt là phẩm chất trung nghĩa. Sự hình thành và phát triển của văn học nhà nho Nam Bộ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các yếu tố lịch sử, văn hóa, xã hội đặc trưng của vùng đất này. Nho giáo, với những tư tưởng về trung quân ái quốc, nhân nghĩa, đã thấm sâu vào tâm thức của các nhà nho và được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm của họ. Bên cạnh đó, tinh thần yêu nước, bất khuất, trọng nghĩa khinh tài của người dân Nam Bộ cũng góp phần tạo nên những nét riêng biệt cho văn học nhà nho nơi đây. Việc nghiên cứu văn học nhà nho Nam Bộ không chỉ giúp hiểu rõ hơn về quá khứ hào hùng của dân tộc mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bồi dưỡng tinh thần yêu nước, trung nghĩa, nhân ái cho thế hệ trẻ hiện nay.

1.1. Bối Cảnh Lịch Sử Xã Hội Hình Thành Văn Học Nhà Nho

Giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX chứng kiến sự khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam và cuộc xâm lược của thực dân Pháp. Triều đình nhà Nguyễn suy yếu, thực hiện chính sách bảo thủ, không đủ sức bảo vệ đất nước. Thực dân Pháp từng bước xâm chiếm Nam Kỳ, gây ra nhiều đau thương, mất mát cho người dân. Trong bối cảnh đó, các nhà nho Nam Bộ, với tinh thần yêu nước, thương dân, đã đứng lên đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Họ sử dụng ngòi bút làm vũ khí, sáng tác những tác phẩm văn học thể hiện lòng yêu nước, căm thù giặc, ca ngợi những tấm gương trung nghĩa, bất khuất. Bối cảnh lịch sử này đã tác động sâu sắc đến nội dung và hình thức của văn học nhà nho Nam Bộ, tạo nên những nét đặc trưng riêng biệt so với các giai đoạn văn học trước đó. Các tác phẩm văn học giai đoạn này thường mang tính thời sự, phản ánh kịp thời các sự kiện lịch sử, xã hội, đồng thời thể hiện những trăn trở, suy tư của các nhà nho về vận mệnh đất nước.

1.2. Vai Trò Của Nho Giáo Trong Văn Học Nhà Nho Nam Bộ

Nho giáo đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tư tưởng và tình cảm của các nhà nho Nam Bộ. Các tư tưởng về trung quân ái quốc, nhân nghĩa, lễ trí tín đã thấm sâu vào tâm thức của họ và được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm văn học. Các nhà nho luôn đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn. Họ cũng đề cao các giá trị đạo đức truyền thống, phê phán những hành vi bất nhân, bất nghĩa. Tuy nhiên, trong bối cảnh lịch sử mới, các nhà nho Nam Bộ cũng có những cách tân trong tư tưởng, không còn quá câu nệ vào những giáo điều Nho giáo. Họ tiếp thu những tư tưởng tiến bộ, phù hợp với thực tiễn, đồng thời phát huy tinh thần yêu nước, thương dân của dân tộc.

II. Phân Tích Vấn Đề Trung Nghĩa Trong Văn Học Nhà Nho Góc Nhìn Mới

Vấn đề trung nghĩa là một trong những chủ đề nổi bật trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX. Khái niệm trung nghĩa trong văn học giai đoạn này không chỉ đơn thuần là lòng trung thành với vua mà còn bao gồm lòng yêu nước, thương dân, tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm. Các nhà nho Nam Bộ đã thể hiện phẩm chất trung nghĩa của mình qua nhiều hình thức khác nhau, từ việc trực tiếp tham gia kháng chiến, đến việc sáng tác văn học để khích lệ tinh thần yêu nước của nhân dân. Các tác phẩm văn học nhà nho giai đoạn này đã xây dựng nên những hình tượng con người trung nghĩa tiêu biểu, vừa mang những nét chung của người Việt Nam truyền thống, vừa có những nét riêng biệt của người dân Nam Bộ. Đó là những người có lòng yêu nước sâu sắc, có ý chí kiên cường, bất khuất, có tinh thần hy sinh vì nghĩa lớn. Việc phân tích vấn đề trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tư tưởng, tình cảm của người dân Nam Bộ trong bối cảnh lịch sử đặc biệt, đồng thời đánh giá được những đóng góp của văn học giai đoạn này vào kho tàng văn học dân tộc.

2.1. Quan Niệm Trung Nghĩa Trong Tư Tưởng Nho Giáo và Ảnh Hưởng

Trong tư tưởng Nho giáo, trung là lòng trung thành với vua, nghĩa là đạo nghĩa, là những việc làm chính đáng. Quan niệm trung nghĩa này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và hành động của các nhà nho. Tuy nhiên, trong bối cảnh lịch sử mới, quan niệm trung nghĩa của các nhà nho Nam Bộ có những thay đổi nhất định. Họ không còn quá câu nệ vào lòng trung thành với vua, mà chú trọng hơn đến lòng yêu nước, thương dân. Họ coi việc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước là nghĩa lớn, là bổn phận của người dân. Sự thay đổi này thể hiện sự thức tỉnh về ý thức dân tộc, về trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng.

2.2. Biểu Hiện Của Trung Nghĩa Trong Tác Phẩm Văn Học Nhà Nho

Phẩm chất trung nghĩa được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm văn học nhà nho Nam Bộ qua nhiều hình thức khác nhau. Đó là lòng yêu nước, căm thù giặc, ý chí kiên cường, bất khuất, tinh thần hy sinh vì nghĩa lớn. Các tác phẩm văn học thường ca ngợi những tấm gương trung nghĩa, những người đã dũng cảm đứng lên chống lại quân xâm lược, bảo vệ đất nước. Các nhà nho cũng sử dụng văn học để lên án những kẻ phản bội, những người làm tay sai cho giặc, đồng thời khích lệ tinh thần yêu nước của nhân dân. Hình tượng con người trung nghĩa được khắc họa một cách sinh động, chân thực, trở thành nguồn cảm hứng lớn cho phong trào đấu tranh yêu nước.

2.3. Hình Tượng Con Người Trung Nghĩa Trong Thơ Văn Nguyễn Đình Chiểu

Nguyễn Đình Chiểu là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của văn học nhà nho Nam Bộ. Các tác phẩm của ông thể hiện sâu sắc tư tưởng yêu nước, trung nghĩa. Ông ca ngợi những người nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm chiến đấu chống giặc, hy sinh vì đất nước. Ông cũng phê phán những kẻ hèn nhát, đầu hàng giặc, những người làm tay sai cho Pháp. Hình tượng Lục Vân Tiên trong truyện thơ cùng tên là biểu tượng cho tinh thần trọng nghĩa khinh tài, sẵn sàng giúp đỡ người yếu thế của Nguyễn Đình Chiểu.

III. Phương Pháp Thể Hiện Con Người Trung Nghĩa Đặc Sắc Nghệ Thuật

Văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX có những phương pháp thể hiện con người trung nghĩa độc đáo, góp phần tạo nên giá trị nghệ thuật của các tác phẩm. Các nhà nho thường sử dụng các thể loại văn học truyền thống như thơ Đường luật, văn tế, hịch, truyện Nôm để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình. Họ cũng vận dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, tượng trưng để làm nổi bật phẩm chất trung nghĩa của nhân vật. Ngôn ngữ văn học nhà nho giai đoạn này thường giản dị, chân thực, gần gũi với đời sống, dễ đi vào lòng người. Đặc biệt, các nhà nho Nam Bộ thường sử dụng các hình ảnh, biểu tượng mang đậm màu sắc văn hóa địa phương để thể hiện tư tưởng yêu nước, trung nghĩa.

3.1. Sử Dụng Thể Loại Văn Học Truyền Thống Để Khắc Họa

Các thể loại văn học truyền thống như thơ Đường luật, văn tế, hịch, truyện Nôm được các nhà nho Nam Bộ sử dụng một cách sáng tạo để thể hiện tư tưởng yêu nước, trung nghĩa. Thơ Đường luật thường được sử dụng để bày tỏ tình cảm cá nhân, những trăn trở, suy tư về vận mệnh đất nước. Văn tế thường được sử dụng để ca ngợi những tấm gương trung nghĩa, những người đã hy sinh vì đất nước. Hịch thường được sử dụng để kêu gọi nhân dân đứng lên đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Truyện Nôm thường được sử dụng để kể những câu chuyện về những người có lòng yêu nước, thương dân, có tinh thần đấu tranh bất khuất.

3.2. Vận Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật So Sánh Ẩn Dụ Tượng Trưng

Các biện pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, tượng trưng được các nhà nho Nam Bộ vận dụng một cách linh hoạt để làm nổi bật phẩm chất trung nghĩa của nhân vật. Các hình ảnh so sánh thường được sử dụng để ca ngợi vẻ đẹp của lòng yêu nước, sự cao cả của tinh thần hy sinh. Các hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng thường được sử dụng để thể hiện những ý nghĩa sâu xa về vận mệnh đất nước, về vai trò của cá nhân trong cộng đồng. Ví dụ, hình ảnh cây tùng, cây bách thường được sử dụng để tượng trưng cho ý chí kiên cường, bất khuất của người quân tử.

3.3. Ngôn Ngữ Giản Dị Chân Thực Gần Gũi Đời Sống Nhân Dân

Ngôn ngữ văn học nhà nho Nam Bộ giai đoạn này thường giản dị, chân thực, gần gũi với đời sống, dễ đi vào lòng người. Các nhà nho sử dụng những từ ngữ quen thuộc, những hình ảnh gần gũi với đời sống thường ngày để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình. Điều này giúp cho các tác phẩm văn học dễ dàng được nhân dân tiếp nhận, truyền bá, từ đó khích lệ tinh thần yêu nước, trung nghĩa của cộng đồng. Ngôn ngữ địa phương cũng được sử dụng một cách sáng tạo, tạo nên những nét riêng biệt cho văn học nhà nho Nam Bộ.

IV. Ứng Dụng Giá Trị Con Người Trung Nghĩa Nghiên Cứu Giáo Dục

Việc nghiên cứu và ứng dụng giá trị con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX có ý nghĩa quan trọng trong việc bồi dưỡng tinh thần yêu nước, trung nghĩa, nhân ái cho thế hệ trẻ hiện nay. Các tác phẩm văn học nhà nho giai đoạn này là nguồn tư liệu quý giá để tìm hiểu về lịch sử, văn hóa, xã hội của Nam Bộ trong bối cảnh đặc biệt. Những tấm gương con người trung nghĩa trong văn học nhà nho có thể truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ, giúp họ hiểu rõ hơn về trách nhiệm của mình đối với đất nước, với cộng đồng. Việc nghiên cứu văn học nhà nho cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, từ đó góp phần xây dựng một xã hội văn minh, giàu đẹp.

4.1. Nghiên Cứu Lịch Sử Văn Hóa Nam Bộ Qua Văn Học Nhà Nho

Văn học nhà nho Nam Bộ là nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, xã hội của vùng đất này trong giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX. Các tác phẩm văn học phản ánh chân thực đời sống vật chất, tinh thần của người dân Nam Bộ, những phong tục tập quán, những nét văn hóa đặc trưng. Việc nghiên cứu văn học nhà nho giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Nam Bộ, về những đóng góp của người dân Nam Bộ vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

4.2. Giáo Dục Tinh Thần Yêu Nước Trung Nghĩa Cho Thế Hệ Trẻ

Những tấm gương con người trung nghĩa trong văn học nhà nho có thể truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ, giúp họ hiểu rõ hơn về trách nhiệm của mình đối với đất nước, với cộng đồng. Việc giới thiệu các tác phẩm văn học nhà nho trong chương trình giáo dục có thể giúp học sinh, sinh viên bồi dưỡng tinh thần yêu nước, trung nghĩa, nhân ái. Các hoạt động ngoại khóa như tổ chức các buổi nói chuyện, hội thảo về văn học nhà nho cũng có thể góp phần nâng cao nhận thức của giới trẻ về những giá trị truyền thống của dân tộc.

4.3. Góp Phần Xây Dựng Xã Hội Văn Minh Giàu Đẹp

Việc nghiên cứu văn học nhà nho giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, từ đó góp phần xây dựng một xã hội văn minh, giàu đẹp. Các giá trị như yêu nước, trung nghĩa, nhân ái, lễ trí tín là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của xã hội. Việc phát huy những giá trị này trong đời sống hiện đại có thể giúp chúng ta xây dựng một xã hội đoàn kết, hòa thuận, công bằng, văn minh.

V. Kết Luận Giá Trị Vĩnh Cửu Văn Học Nhà Nho Nam Bộ Thế Kỷ XIX

Văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX là một di sản văn hóa quý giá của dân tộc. Các tác phẩm văn học giai đoạn này không chỉ phản ánh chân thực đời sống xã hội, tư tưởng, tình cảm của người dân Nam Bộ mà còn thể hiện những giá trị đạo đức cao đẹp, đặc biệt là phẩm chất trung nghĩa. Việc nghiên cứu và phát huy giá trị của văn học nhà nho có ý nghĩa quan trọng trong việc bồi dưỡng tinh thần yêu nước, trung nghĩa, nhân ái cho thế hệ trẻ, đồng thời góp phần xây dựng một xã hội văn minh, giàu đẹp. Dù thời gian trôi qua, những giá trị mà văn học nhà nho Nam Bộ mang lại vẫn còn nguyên vẹn, có ý nghĩa vĩnh cửu đối với sự phát triển của dân tộc.

5.1. Tóm Lược Đóng Góp Văn Học Nhà Nho Nam Bộ

Văn học nhà nho Nam Bộ đã đóng góp vào kho tàng văn học dân tộc những tác phẩm có giá trị về nội dung và nghệ thuật. Các tác phẩm phản ánh chân thực đời sống xã hội, tư tưởng, tình cảm của người dân Nam Bộ, đồng thời thể hiện những giá trị đạo đức cao đẹp. Văn học nhà nho cũng góp phần làm phong phú thêm các thể loại văn học truyền thống, đồng thời tạo ra những nét riêng biệt cho văn học vùng miền.

5.2. Khẳng Định Giá Trị Tư Tưởng Vượt Thời Gian

Các giá trị như yêu nước, trung nghĩa, nhân ái, lễ trí tín được thể hiện trong văn học nhà nho vẫn còn nguyên vẹn giá trị trong đời sống hiện đại. Những giá trị này là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của xã hội, giúp chúng ta xây dựng một xã hội đoàn kết, hòa thuận, công bằng, văn minh.

5.3. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Văn Học Nhà Nho Nam Bộ

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của văn học nhà nho Nam Bộ, đặc biệt là về tư tưởng, nghệ thuật, và ảnh hưởng của văn học đến đời sống xã hội. Cần có những công trình nghiên cứu so sánh văn học nhà nho Nam Bộ với văn học nhà nho các vùng miền khác để làm nổi bật những nét riêng biệt của văn học vùng miền. Đồng thời, cần chú trọng đến việc giới thiệu các tác phẩm văn học nhà nho đến đông đảo công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề: “Lắm khi chữ hiếu đặt trước cả chữ trung, đạo hiếu được xem là nền của đạo trung”, “trung hiếu là hai đức tính cơ bản của con người mà luân lý Nho giáo đòi hỏi một cách nghiêm khắc. Đánh giá con người, nhận xét hành vi, tất thảy đều lấy trung hiếu làm tiêu chuẩn” [35, tr. Tác giả nghiên cứu Nho giáo trên phương diện tư tưởng chứ chưa nhấn mạnh vai trò Nho giáo tới đời sống văn học. Trong những năm sau đó, giới nghiên cứu quan tâm nhiều, nghiên cứu hệ thống hơn về loại hình nhà nho, tiêu biểu như Nguyễn Khắc Viện, Trần Đình Hượu, Quang Đạm.

Nguyễn Khắc Viện với công trình Bàn về Đạo Nho đã phân tích những giá trị tích cực cũng như những hạn chế lịch sử của Đạo Nho, mối quan hệ của Đạo Nho với truyền thống văn hóa Việt Nam, trong đó có đề cập yếu tố “nghĩa”. Tác giả cũng đề cập mẫu hình con người, sự kết hợp Đông - Tây của con người Việt Nam trên con đường hội nhập với thế giới, làm rõ một “đạo lý” đẹp đẽ và chung thủy của người sĩ phu trung thực, hết lòng vì nước, vì dân. Đặc biệt Trần Đình Hượu với các bài viết “Mấy ý kiến bàn về vấn đề nghiên cứu Nho giáo”, “Nho giáo và văn học nghệ thuật” (đã được tập hợp trong sách Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại), quan tâm đến mối quan hệ giữa văn học và Nho giáo với nhiều nhận định sâu sắc: “Nho giáo chi phối văn học nghệ thuật… hình thành trong lịch sử cả vùng một loại hình văn sĩ, nghệ sĩ, một loại hình văn học nghệ thuật, viết cùng những thể loại, theo cùng một quan niệm văn học” [100, tr. Bàn về ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học nghệ thuật, Trần Đình Hượu xác định thêm: “Nho giáo gây ra tác dụng kìm hãm nặng nề đối với văn học nghệ thuật… Ngự trị lâu dài như thế văn học nghệ thuật của Nho giáo tác động rất mạnh đến truyền thống của các dân tộc” [100, tr.

Từ sau ngày thống nhất đất nước, việc nghiên cứu văn học sử có những thay đổi lớn, đem lại cái nhìn mới và góp thêm tiếng nói phong phú và đa dạng về văn học nửa sau thế kỷ XIX. Gần đây, Phương Lựu với tham luận “Khái quát về quan niệm văn học Nho giáo ở Việt Nam” tại Hội thảo quốc tế do Viện Hán Nôm Việt Nam và Viện Harward-Yenching Hoa Kỳ tổ chức (2004) tại Hà Nội nhận diện “ảnh hưởng của Nho 8 giáo đối với văn học Việt Nam trung cận đại” theo hướng miêu tả cụ thể - điều mà học thuật đang quan tâm. Thực ra, việc nghiên cứu về Nho giáo suốt một thời kỳ dài ở nước ta bị “trì trệ” khá lâu sau những công trình có tính chất mô tả tổng quan của Trần Trọng Kim (viết năm 1928 và in 2-3 lần năm 1932). Mặc dù, sách của Trần Trọng Kim chỉ có tính mô tả nhưng nó lại mang tính nhập môn rất cần thiết,… Sau đó có một số bài viết, một số người phê bình theo nghĩa là đối thoại, bàn luận thêm.

Trong đó Đào Duy Anh với cuốn Khổng giáo phê bình tiểu luận được coi là “công trình đầu tiên và có lẽ là duy nhất trước Cách mạng tháng Tám đã thử vận dụng thế giới quan Mác-xít để khảo sát và đánh giá Nho giáo” (Dẫn theo nhận xét của Trần Ngọc Vương, https://baomoi.com/pgs- ts-tran-ngoc-vuong-thuong-phai-chinh/c/7583940. Về văn học nửa sau thế kỷ XIX có thể kể tên một số công trình tiêu biểu như Lịch sử văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX của Nguyễn Lộc [116]; Lịch sử văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX của tập thể tác giả Đại học Sư phạm I (Lê Trí Viễn, Phan Côn, Nguyễn Đình Chú, Huỳnh Lý, Lê Hoài Nam [203]; “Lời giới thiệu” của Trần Văn Giàu trong Hợp tuyển thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX [55]. Trần Văn Giàu đề cập tư tưởng chủ đạo trong sáng tác của các nhà nho yêu nước giai đoạn này, là: “việc nghĩa phải làm, không kể đến thành bại”, “tư tưởng trung quân: hình ảnh vua càng mờ xuống, vị trí dân càng lên cao” [55, tr. Cũng Trần Văn Giàu, trong công trình Tư tưởng yêu nước trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam [39] với bài viết “Nguyễn Đình Chiểu: đạo làm người”, tác giả nêu khái niệm về “Nghĩa”: “là lẽ phải; Gặp việc nghĩa phải làm, không làm không dũng, mà làm người thì phải dũng, không dũng không ra người; Làm việc nghĩa không suy tính lợi hại, làm việc nghĩa mà dù có thiệt cho riêng mình, có chết đi nữa cũng cứ phải làm; Làm việc nghĩa không cần báo đáp” [39, tr.

Ông có những đánh giá khái quát vấn đề trung nghĩa giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX, tuy nhiên đấy chưa phải là công trình nghiên cứu tư tưởng trung nghĩa, con người trung nghĩa trong văn học. Công trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX của Nguyễn Lộc [117], viết về hai giai đoạn hết sức quan trọng trong văn học Việt Nam trung đại: một giai đoạn đỉnh cao, một giai đoạn là bước chuyển mình của văn học dân tộc từ trung đại sang cận, hiện đại. Quyển sách trình bày quá trình phát triển văn học Việt Nam qua hai giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, và giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX. Theo tác giả, văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX thể hiện bằng thơ văn yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược và bọn tay sai bán nước; văn học mang tính tố cáo hiện thực sâu sắc; văn học có những đổi mới khác hẳn so với giai đoạn trước (nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX).

Nguyễn Lộc cũng phân chia các khuynh hướng văn học và dành 6 chương giới thiệu, khái quát 6 9 tác giả là nhà nho: Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương. Công trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930 của Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng [98] xem giai đoạn văn học 1900 - 1930 như một sự chuyển hóa, chuẩn bị cho sự ra đời văn học Việt Nam hiện đại. Theo các tác giả, tính chất giao thời biểu hiện ở sự tồn tại song song hai nền văn học cũ và mới với hai lực lượng sáng tác; hai công chúng với hai quan niệm văn học, hai ngôn ngữ văn học ở hai địa bàn khác nhau. Trần Đình Hượu với công trình Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại [100] cho rằng để hiểu hơn nhà nho Việt Nam cần phải đánh giá sự tiếp xúc của họ với Nho giáo và văn học Trung Quốc, đồng thời phải lưu ý đến tình hình phát triển không đồng đều của các vùng đất nước.

Về nhà Nho theo Trần Đình Hượu, không nên hiểu là những người học chữ Hán, đọc sách thánh hiền, giữ đạo tam cương ngũ thường… mà cần nhìn họ như một tầng lớp xã hội, một đội ngũ có nhiều loại hình. Với công trình này, ông chia nhà nho ra làm ba loại: nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật và nhà nho tài tử. Trần Đình Hượu khảo sát một số hiện tượng văn học - những trường hợp nhà nho tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thông, Phan Bội Châu, Tản Đà,…; ảnh hưởng của Nho giáo trong văn học Việt Nam trung đại thế kỷ XV - XIX. Cuốn sách đề cập nhiều hiện tượng văn học trung cận đại Việt Nam, đặc biệt ảnh hưởng Nho giáo và nhà nho đối với văn học và ảnh hưởng đó được nhìn tập trung vào quan niệm văn học.

Cũng Trần Đình Hượu, trong bài “Về ảnh hưởng nhiều mặt của Nho giáo trong văn học Việt Nam trung cận đại”, tác giả dành nhiều tâm huyết cho việc “khảo sát văn học do nhà nho viết, viết theo quan niệm Nho giáo…” [100, tr. Theo ông: “Nho giáo ảnh hưởng tới văn học với tư cách là một học thuyết tức là một hệ thống các quan điểm về thế giới, về xã hội, về con người, về lý tưởng… cho nên cũng có một cách quan niệm văn học riêng… Theo quan niệm văn học của Nho giáo, văn học có một nguồn gốc linh thiêng, một chức năng xã hội cao cả. Nho giáo hy vọng dùng văn chương để giáo hóa, động viên, tổ chức, hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội”; “Nho giáo ảnh hưởng trực tiếp đến văn học qua thế giới quan của người viết” [100, tr.49, 50], “Nho giáo hướng văn học vào truyền đạt đạo lý chứ không phải tả và kể, phản ánh cái thực”; “Nho giáo, các nhà nho làm chủ văn học ta từ thế kỷ XV đến vài thập kỷ đầu thế kỷ XX…; “Chứng tích ảnh hưởng Nho giáo trong văn học không chỉ ở mô típ nội dung, hình ảnh, từ ngữ mà sâu xa hơn là ở quan niệm văn học, ở quan niệm cái đẹp” [100, tr. Trên nhiều phương diện, tác giả đề cập những thành tựu nghiên cứu về xã hội, con người, lý tưởng,… quan trọng là dùng văn chương để góp phần hoàn thiện con người.

Khi nghiên cứu, luận giải về Nho giáo, văn 10 chương nhà nho nói chung, tác giả đã suy ngẫm và tổng kết, khái quát lên từ vốn sống, từ sự quan sát thực tế đã có những hướng nghiên cứu một cách có hệ thống toàn bộ cấu trúc của Nho giáo và sự chi phối của nó từ trong lịch sử cho đến thời hiện đại. Trần Ngọc Vương trong các công trình Loại hình học tác giả văn học - Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam [212]; Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung [214] cho rằng “từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX… nội hàm khái niệm văn học dân tộc gần như trùng khớp với nội hàm khái niệm văn học nhà nho ở Việt Nam” [214, tr. Công trình Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX những vấn đề lý luận và lịch sử [215] được biên soạn bởi Trần Ngọc Vương (chủ biên), Trần Nho Thìn, Nguyễn Văn Thịnh, Trần Nghĩa, Đoàn Lê Giang, Kiều Thu Hoạch, Cao Tự Thanh,. Các tác giả bàn về văn học nhà nho, tìm hiểu nghiên cứu về Nho giáo, tiêu biểu là hai loại hình nhà nho ẩn dật và hành đạo, nêu sơ lược về nguồn gốc, lịch sử hình thành cũng như quan niệm, tư tưởng và cách nghĩ của hai loại hình nhà nho chính thống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ