Tổng quan luận án

Vấn đề môi trường và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên đang là thách thức mang tính toàn cầu. Môi trường tự nhiên là điều kiện cần thiết, cơ bản, thường xuyên đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của đời sống con người. Trong lịch sử truyền thống của dân tộc Việt Nam, ứng xử có văn hóa với môi trường tự nhiên thông qua các chuẩn mực đạo đức, lối sống hòa hợp, gắn bó mật thiết với thiên nhiên đã trở thành giá trị bền vững được cộng đồng gìn giữ và vun đắp. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường, các thang giá trị xã hội có những biến đổi đa chiều. Tình trạng chạy theo lợi ích kinh tế cục bộ, trước mắt đã dẫn tới hành vi khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, lạm dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp, xả thải công nghiệp và sinh hoạt bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và suy giảm đa dạng sinh học.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả Trần Thị Thúy Hà chỉ ra là: phần lớn các nghiên cứu về môi trường ở Việt Nam thời gian qua chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kinh tế - xã hội, quản lý nhà nước hoặc khoa học kỹ thuật; các công trình tiếp cận chuyên sâu dưới góc độ triết học - xã hội về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên còn rất khiêm tốn, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chỉnh thể, toàn diện và có hệ thống trên cả hai bình diện sản xuất và sinh hoạt thường nhật. Luận án tiến sĩ triết học "Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên ở Việt Nam hiện nay" (chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số 62 22 03 02) được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018 dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hà nhằm lấp đầy khoảng trống học thuật này.

Mục tiêu tổng quát của luận án là trên cơ sở khái quát lý luận về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, phân tích và làm rõ thực trạng văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên ở nước ta.

Để hiện thực hóa mục tiêu trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ một số vấn đề lý luận về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên.
  2. Phân tích thực trạng văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên ở Việt Nam hiện nay: những kết quả đã đạt được, những vấn đề cần khắc phục và nguyên nhân chủ yếu của thực trạng ấy.
  3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên ở nước ta hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên ở Việt Nam hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ: Đề tài tiếp cận vấn đề dưới góc độ chuyên ngành triết học (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử); tập trung khảo sát, phân tích văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên ở Việt Nam trong hai lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội là hoạt động sản xuất (khu/cụm công nghiệp, làng nghề, sản xuất nông nghiệp, khai thác tài nguyên khoáng sản) và hoạt động sinh hoạt hàng ngày (ăn uống, mặc, ở, đi lại).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài, phân chia thành các nhóm nội dung cụ thể:

Nhóm nghiên cứu quốc tế về đạo đức môi trường và ứng xử sinh thái:

  • Khởi đầu từ các công trình đặt nền móng thập niên 1960 - 1970 như bài viết "Nguồn gốc lịch sử của sự khủng hoảng sinh thái" (1967) của Lynn White; "Chiến lược của cộng đồng" (1968) của Garett Hardin; bài báo "Đạo đức đối với trái đất" (1970) của Aldo Leopold - người sáng lập đạo đức học môi trường.
  • Các công trình chuyên sâu: William Blackstone với kỷ yếu hội thảo "Triết học và sự khủng hoảng môi trường" (1974); Holmes Rolston với tác phẩm "Có tồn tại đạo đức sinh thái trong đạo đức" (1975); Eugene C. Hargrove sáng lập Tạp chí Đạo đức học môi trường (1979); John Passmore với cuốn sách "Trách nhiệm của con người đối với tự nhiên" (1980); Ernest Partridge với tác phẩm "Đạo đức môi trường và chính sách công" (1980); Peter S. Wenz với công trình "Đạo đức môi trường ngày nay" (2001).

Nhóm nghiên cứu trong nước về đạo đức môi trường, văn hóa sinh thái và phát triển bền vững:

  • Các nghiên cứu lý luận và đánh giá đạo đức môi trường: Đề tài cấp bộ "Đạo đức môi trường - Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới" (2009-2010) và cuốn sách "Đạo đức môi trường" (2013) của Nguyễn Văn Phúc; đề tài "Đánh giá đạo đức môi trường ở nước ta hiện nay" (2009-2010) và cuốn sách "Đạo đức môi trường ở nước ta – Lý luận và thực tiễn" (2011) của Vũ Dũng; công trình "Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái" (2009) của Vũ Trọng Dung; đề tài "Giải pháp nâng cao ý thức sinh thái cộng đồng ở nước ta trong những năm tới" (2001-2003) do Phạm Thành Nghị chủ nhiệm.
  • Các nghiên cứu về môi trường sinh thái, văn hóa và con người: Tác phẩm "Cơ sở văn hóa Việt Nam" (1999) của Trần Ngọc Thêm; "Môi trường sinh thái vấn đề và giải pháp" (1997) và đề tài nghiên cứu lý luận mối quan hệ giữa con người, tài nguyên môi trường và phát triển bền vững (2005) của Phạm Thị Ngọc Trầm; "Văn hóa sinh thái - nhân văn" (2001, 2005) của Trần Lê Bảo; "Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên" (2002) của Nguyễn Viết Chức; "Tác phẩm 'Biện chứng của tự nhiên' và ý nghĩa hiện thời của nó" (2002) của Nguyễn Trọng Chuẩn; "Con người, Môi trường và Văn hóa" (2014) của Nguyễn Xuân Kính; "Môi trường của chúng ta" (2008) của Nguyễn Thanh Thủy; "Văn hóa Việt Nam trên con đường giải phóng, đổi mới, hội nhập và phát triển" (2013) của Đỗ Huy.
  • Các luận án tiến sĩ triết học nghiên cứu các khía cạnh liên quan: Luận án của Đỗ Thị Ngọc Lan (1995) về mối quan hệ thích nghi và biến đổi môi trường tự nhiên; luận án của Bùi Văn Dũng (1999) về mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường; luận án của Phạm Văn Boong (2001) về xây dựng ý thức sinh thái; luận án của Trần Thị Hồng Loan về văn hóa sinh thái trong phát triển bền vững.
  • Hệ thống văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước: Nghị quyết số 41-NQ/TW (2004) của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 24-NQ/TW (2013) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Luật Bảo vệ môi trường các năm 1993, 2005, 2014; Điều 43 và Điều 63 Hiến pháp năm 2013; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) và lần thứ XII (2016).
Hướng nghiên cứu đã có Tác giả tiêu biểu Nội dung chính Khoảng trống luận án giải quyết
Đạo đức môi trường và ý thức sinh thái Aldo Leopold, Vũ Dũng, Nguyễn Văn Phúc, Vũ Trọng Dung Lý luận chung về chuẩn mực đạo đức đối với tự nhiên; thực trạng nhận thức đạo đức sinh thái Chưa xem xét văn hóa ứng xử như một chỉnh thể bao hàm cả hành vi sản xuất và sinh hoạt cụ thể
Mối quan hệ con người - tự nhiên và văn hóa sinh thái Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Thị Ngọc Trầm, Trần Lê Bảo, Nguyễn Viết Chức Cơ sở triết học - xã hội của quan hệ tự nhiên - con người; văn hóa sinh thái nhân văn Chưa phân tích toàn diện thực trạng văn hóa ứng xử trong các ngành sản xuất và lối sống thường nhật ở Việt Nam
Chính sách, quản lý môi trường và phát triển bền vững Đỗ Thị Ngọc Lan, Bùi Văn Dũng, Trần Thị Hồng Loan, các văn kiện Đảng Cơ chế pháp lý, giải pháp kinh tế - kỹ thuật trong bảo vệ môi trường Thiếu cách tiếp cận tổng thể từ góc độ triết học CNDVBC & CNDVLS về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên

Khoảng trống mà luận án tập trung giải quyết là xây dựng một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên dưới lăng kính triết học Mác - Lênin; khảo sát thực trạng hành vi ứng xử sinh thái trong cả sản xuất (công nghiệp, làng nghề, nông nghiệp, khoáng sản) lẫn sinh hoạt (ăn uống, mặc, ở, đi lại); từ đó xác định các nhân tố tác động và đề xuất giải pháp triết học - xã hội đồng bộ nhằm định hình văn hóa ứng xử sinh thái bền vững tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được triển khai trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về môi trường và phát triển bền vững.

Khung khái niệm và lý thuyết:

  • Khái niệm văn hóa: Là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm hướng tới các giá trị Chân - Thiện - Mỹ. Luận án phân biệt rõ văn hóa và văn minh trên bốn phương diện: tính lịch sử (văn hóa là bề dày quá khứ, văn minh là lát cắt đồng đại), tính giá trị (văn hóa gồm cả vật chất và tinh thần, văn minh thiên về vật chất), phạm vi (văn hóa mang tính dân tộc, văn minh mang tính toàn cầu), và nguồn gốc (văn hóa gắn với phương Đông nông nghiệp, văn minh gắn với phương Tây đô thị).
  • Khái niệm ứng xử và văn hóa ứng xử: Ứng xử là phản ứng có lựa chọn, tính toán của con người trước sự tác động của tự nhiên, xã hội và bản thân. Văn hóa ứng xử là hệ thống giá trị, chuẩn mực, thái độ và hành vi quy định phương thức ứng xử của cá nhân và cộng đồng trong việc giải quyết các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, xã hội và bản thân.
  • Khái niệm môi trường tự nhiên: Là môi trường sống của con người, là tổng hợp những điều kiện tự nhiên có liên quan đến sự sống của con người, đến sự tồn tại và phát triển của xã hội.
  • Khái niệm văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên: Là hành vi ứng xử hài hòa của con người với tự nhiên, là sự thích ứng với môi trường sống để điều hòa nhịp sống của mình nhằm bảo vệ và xây dựng môi trường ngày càng tốt đẹp hơn. Khái niệm này bao gồm ba nội dung cấu thành: hành vi ứng xử của con người với tự nhiên; sự thích ứng của con người với môi trường sống; sự tác động làm biến đổi tự nhiên thông qua các hoạt động của con người.

Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để phân tích các yếu tố cấu thành văn hóa ứng xử và tổng hợp thực trạng môi trường tại Việt Nam.
  • Phương pháp logic và lịch sử: Khảo sát quá trình biến đổi trong quan niệm và hành vi ứng xử với môi trường qua các thời kỳ lịch sử.
  • Phương pháp thống kê, đối chiếu và so sánh: Sử dụng số liệu thứ cấp từ các báo cáo môi trường quốc gia, các tài liệu điều tra xã hội học và chính sách pháp luật để đánh giá thực trạng.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Luận án sử dụng các văn bản kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh; các văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết Trung ương, Hiến pháp và Luật Bảo vệ môi trường; các báo cáo hiện trạng môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường; cùng tư liệu khảo sát từ các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 khái quát và hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai trục nội dung lớn: lý luận về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên (đạo đức môi trường, văn hóa sinh thái) và thực trạng cùng các giải pháp nâng cao văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên ở Việt Nam. Trên cơ sở phân tích thành tựu và giới hạn của các công trình đi trước, tác giả chỉ ra tính cấp thiết của việc tiếp cận vấn đề dưới góc độ triết học Mác - Lênin và xác định 4 vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết: làm rõ nhận thức lý luận, đánh giá thực trạng trong sản xuất và sinh hoạt, dự báo các nhân tố tác động, và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao văn hóa ứng xử với tự nhiên.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên

Chương 2 làm rõ cơ sở lý luận của luận án qua 4 nội dung chính:

  • Làm sáng tỏ các khái niệm nền tảng: văn hóa, ứng xử, văn hóa ứng xử, môi trường tự nhiên, phân biệt văn hóa và văn minh, và xác lập định nghĩa văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên gồm 3 nội dung cốt lõi.
  • Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định con người là một bộ phận của tự nhiên, giới tự nhiên là "thân thể vô cơ của con người". Hoạt động thực tiễn của con người phải tuân theo quy luật khách quan của tự nhiên; nếu tác động mù quáng, khai thác tận diệt thì tự nhiên sẽ "trả thù". Quan hệ con người - tự nhiên luôn bị quy định bởi quan hệ giữa người với người và bản chất chế độ xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh nhấn mạnh phát triển hài hòa, gắn bảo vệ thiên nhiên với nâng cao đời sống nhân dân (tiêu biểu qua phong trào Tết trồng cây).
  • Luận giải vai trò của văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên: Góp phần hoàn thiện và phát triển nhân cách con người; xây dựng nếp sống văn hóa mới và xã hội văn minh; thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
  • Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi ứng xử với môi trường tự nhiên: Trình độ nhận thức khoa học, điều kiện kinh tế - xã hội, thể chế pháp luật, và các phong tục tập quán truyền thống.

Chương 3: Thực trạng văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 đi sâu khảo sát và phân tích thực trạng hành vi ứng xử với môi trường tự nhiên ở Việt Nam trên hai lĩnh vực lớn:

  • Văn hóa ứng xử với môi trường trong sản xuất:
    • Trong các khu, cụm công nghiệp: Tồn tại tình trạng ưu tiên tăng trưởng kinh tế thuần túy, xem nhẹ công tác xử lý chất thải; nhiều doanh nghiệp xả thải chưa qua xử lý trực tiếp ra sông, biển, gây ô nhiễm nước và không khí nghiêm trọng.
    • Trong các làng nghề: Ô nhiễm môi trường làng nghề (chế biến nông sản, dệt nhuộm, tái chế kim loại) diễn ra phổ biến do hạ tầng kỹ thuật yếu kém, công nghệ lạc hậu và ý thức bảo vệ môi trường của người dân chưa cao.
    • Trong sản xuất nông nghiệp: Lạm dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, vứt bao bì bừa bãi ra đồng ruộng, kênh mương, gây thoái hóa đất và mất an toàn thực phẩm.
    • Trong khai thác tài nguyên khoáng sản: Tình trạng khai thác trái phép, công nghệ lạc hậu làm suy thoái tài nguyên, sạt lở đất và biến dạng cảnh quan sinh thái.
  • Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên trong sinh hoạt:
    • Trong ăn uống: Thói quen lãng phí thực phẩm, sử dụng túi nilon và đồ nhựa dùng một lần tràn lan.
    • Trong mặc: Chạy theo thị hiếu tiêu dùng nhanh, thải bỏ lượng lớn rác thải dệt may khó phân hủy.
    • Trong ở: Xây dựng thiếu quy hoạch không gian xanh, xử lý rác thải sinh hoạt đô thị và nông thôn chưa triệt để, thói quen xả rác bừa bãi.
    • Trong đi lại: Sự gia tăng phương tiện giao thông cá nhân phát thải khí độc hại, ý thức bảo vệ môi trường khi tham gia giao thông còn hạn chế.
  • Đánh giá chung: Bên cạnh những chuyển biến tích cực trong nhận thức của một bộ phận cộng đồng, hành vi ứng xử thiếu văn hóa với tự nhiên vẫn diễn ra phổ biến do nguyên nhân từ lợi ích kinh tế trước mắt, sự hạn chế trong giáo dục môi trường, và công tác quản lý, thực thi pháp luật chưa nghiêm.

Chương 4: Giải pháp nâng cao văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chủ yếu:

  • Đẩy mạnh giáo dục văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên: Tích hợp giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại học; đa dạng hóa hình thức truyền thông cộng đồng nhằm chuyển biến từ nhận thức thành thói quen và hành vi tự giác.
  • Tăng cường kiểm tra, xử phạt các hành vi gây ô nhiễm môi trường: Hoàn thiện chế tài pháp lý, nâng cao năng lực và trách nhiệm của các cơ quan thanh tra, kiểm tra môi trường; xử lý nghiêm minh các vi phạm của cá nhân và tổ chức, không có vùng cấm.
  • Coi trọng công tác đảm bảo an ninh môi trường: Chủ động phòng ngừa khủng hoảng sinh thái, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới và sự cố môi trường.
  • Kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường: Thực hiện chuyển đổi mô hình kinh tế sang kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần; thẩm định nghiêm ngặt yếu tố môi trường trong các dự án đầu tư.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn như sau:

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm rõ quan niệm về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên dưới góc độ chuyên ngành triết học (CNDVBC & CNDVLS), xác định rõ cấu trúc ba thành tố của văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và phân biệt rành mạch giữa văn hóa và văn minh trong mối quan hệ với tự nhiên.
  • Làm sáng tỏ các luận điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất biện chứng giữa con người và tự nhiên, vai trò định hướng của quy luật tự nhiên đối với hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người trong điều kiện hiện đại.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Đánh giá toàn diện, có hệ thống thực trạng văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên ở Việt Nam trên cả hai lĩnh vực sản xuất (công nghiệp, làng nghề, nông nghiệp, khoáng sản) và sinh hoạt thường nhật (ăn, mặc, ở, đi lại).
  • Phân tích và chỉ rõ các nguyên nhân kinh tế, xã hội, nhận thức và quản lý dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường và hành vi ứng xử thiếu văn hóa với thiên nhiên ở nước ta.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính chỉnh thể, từ đổi mới giáo dục, hoàn thiện pháp luật, bảo đảm an ninh môi trường đến kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi tiếp cận: Do giới hạn thuộc chuyên ngành triết học (CNDVBC & CNDVLS), luận án tập trung giải quyết vấn đề ở tầm khái quát lý luận và phân tích các phương diện xã hội - nhân văn của hành vi ứng xử, chưa đi sâu vào việc đo lường định lượng các chỉ số kỹ thuật môi trường chuyên ngành.
  • Về nguồn dữ liệu: Dữ liệu thực trạng chủ yếu dựa trên nguồn tư liệu, số liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý nhà nước và công trình nghiên cứu đã công bố, chưa tiến hành điều tra xã hội học diện rộng bằng bảng hỏi độc lập.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục theo dõi, cập nhật các biến động môi trường mới phát sinh trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu.
  • Mở rộng nghiên cứu văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên theo từng nhóm chủ thể xã hội đặc thù (như văn hóa sinh thái của doanh nhân, của cư dân đô thị, hoặc của các cộng đồng dân tộc thiểu số).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Triết học, Văn hóa học, Xã hội học, Khoa học Môi trường và Quản lý tài nguyên: Luận án cung cấp hệ thống cơ sở lý luận mác-xít vững chắc về mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên, phương pháp tiếp cận văn hóa đối với vấn đề sinh thái.
  • Đối với giảng viên: Cung cấp tài liệu phục vụ giảng dạy các chuyên đề Triết học Mác - Lênin, Triết học văn hóa, Đạo đức học môi trường và môn học Con người và Môi trường trong các trường đại học, học viện.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý môi trường: Nội dung Chương 3 và Chương 4 cung cấp căn cứ thực tiễn quan trọng để xây dựng các chương trình giáo dục môi trường cộng đồng, hoàn thiện quy định pháp luật và định hình chiến lược an ninh môi trường gắn với phát triển bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thế nào về "văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên"? Theo luận án, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên là hành vi ứng xử hài hòa của con người với tự nhiên, là sự thích ứng với môi trường sống để điều hòa nhịp sống của mình nhằm bảo vệ và xây dựng môi trường ngày càng tốt đẹp hơn. Cấu trúc của nó bao gồm ba nội dung: hành vi ứng xử của con người với tự nhiên; sự thích ứng của con người với môi trường sống; và sự tác động làm biến đổi tự nhiên thông qua các hoạt động sống của con người.

2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về việc tự nhiên "trả thù" con người được luận án khai thác ra sao? Luận án dẫn luận điểm kinh điển của Ph.Ăngghen trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên": Giới tự nhiên là "thân thể vô cơ của con người". Khi con người tác động vào tự nhiên vượt quá giới hạn, khai thác tận diệt và bất chấp quy luật khách quan, thì những thắng lợi ban đầu sẽ dẫn tới những hậu quả khó lường ở lần thứ hai, thứ ba, phá hủy toàn bộ thành quả trước đó. Con người không thống trị tự nhiên như kẻ xâm lăng bên ngoài mà nằm trong lòng tự nhiên; sự thống trị chỉ có được khi con người nhận thức đúng và vận dụng chính xác các quy luật tự nhiên.

3. Luận án phân tích văn hóa ứng xử với môi trường trong sản xuất và sinh hoạt gồm những nội dung cụ thể nào?

  • Trong sản xuất: Khảo sát tại 4 khu vực: (1) Các khu, cụm công nghiệp; (2) Các làng nghề; (3) Sản xuất nông nghiệp; (4) Khai thác tài nguyên khoáng sản.
  • Trong sinh hoạt: Khảo sát qua 4 nhu cầu thiết yếu hàng ngày: (1) Ăn, uống; (2) Mặc; (3) Ở; (4) Đi lại.

4. Bốn nhóm giải pháp trọng tâm được tác giả đề xuất là gì? Bốn giải pháp gồm: (1) Đẩy mạnh giáo dục văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên; (2) Tăng cường kiểm tra, xử phạt các hành vi gây ô nhiễm môi trường; (3) Coi trọng công tác đảm bảo an ninh môi trường; (4) Kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường.

Kết luận

Luận án tiến sĩ triết học của tác giả Trần Thị Thúy Hà đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên ở Việt Nam hiện nay. Bằng việc vận dụng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, công trình đã làm sáng tỏ bản chất, vai trò của văn hóa ứng xử sinh thái, đồng thời chỉ ra thực trạng và nguyên nhân của những hành vi ứng xử tiêu cực với môi trường trong sản xuất và đời sống. Hệ thống các giải pháp được đề xuất trong luận án mang giá trị ứng dụng thiết thực, góp phần định hướng hành vi của con người hướng tới lối sống hài hòa với thiên nhiên và phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước.