Chương 1. Tổng quan - Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu - Chương 3. Kết quả và Thảo luận - Kết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo - Phụ lục.
TỔNG QUAN Để làm rõ những vấn đề đặt ra mà luận án phải giải quyết cũng như cung cấp thông tin về hai địa phương được chọn làm đối tượng nghiên cứu, chương này trình bày các khái niệm cơ sở lý thuyết của luận án như khái niệm HSST, mô hình đường cong môi trường Kuznets, các phương pháp đánh giá đa tiêu chí theo số học và dùng thống kê đa biến; phương pháp hồi qui tương quan và các phương pháp so sánh thống kê. Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày sơ lược các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài và giới thiệu hai tỉnh được chọn là Bình Dương và Đồng Nai. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Khái niệm HSST Trên thế giới, có nhiều tổ chức đưa ra khái niệm HSST, có thể điểm qua một số khái niệm về HSST của các tổ chức quan trọng (Trust in - European Training Partnership on Sustainable Innovation, 2014), (Camille Allocca, 2000): Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO định nghĩa: “HSST là công cụ quản lý định lượng cho phép xem xét các tác động môi trường của vòng đời của một hệ thống sản phẩm bên cạnh giá trị của hệ thống sản phẩm đối với một bên liên quan “.
Định nghĩa này xác định HSST cho một sản phẩm dựa trên giá trị của sản phẩm so với tác động môi trường suốt cả vòng đời. Nghĩa là HSST = giá trị kinh tế/giá trị tác động môi trường. Hội đồng doanh nghiệp thế giới vì sự phát triển bền vững (WBCSD) định nghĩa HSST: “HSST đạt được bởi sự cung ứng hàng hóa và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu con người và chất lượng cuộc sống, trong khi vẫn giảm được các tác động đến môi trường và giảm việc tiêu thụ tài nguyên trong suốt vòng đời ở mức tối thiểu theo hướng khả năng chịu tải của trái đất” (WBCSD, 2005). Như vậy, HSST liên quan đến tạo ra nhiều giá trị với tác động ít nhất.
WBCSD có ba mục tiêu liên quan đến HSST: 9 Giảm tiêu thụ tài nguyên. Giảm tác động vào thiên nhiên. Cung cấp cho người tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao hơn. Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) định nghĩa HSST là tỷ lệ của giá trị đầu ra (của sản phẩm và dịch vụ sản xuất bởi nhà máy, ngành hay nền kinh tế) chia cho đầu vào (tổng áp lực môi trường sinh ra bởi nhà máy, ngành hay nền kinh tế) (OECD, 1998).
Cục Môi trường Châu Âu (EEA): “HSST là một khái niệm và chiến lược cho phép thực hiện song hành của việc “khai thác thiên nhiên” từ các hoạt động kinh tế cần cho nhu cầu con người cho phép duy trì trong khả năng chịu tải, cho phép tiếp cận bình đẳng và sử dụng cho môi trường bởi thế hệ hiện tại và tương lai (Hình 1). Tách phần sử dụng tài nguyên Hoạt động kinh tế (GDP) khỏi tăng trưởng kinh tế: HSST tốt hơn: Nhiều giá trị “Càng nhiều giá trị trên một hơn trên mỗi tác động kg” Sử dụng tài nguyên (Kg, km2, kW) Tách tác động môi trường khỏi sử dụng tài nguyên: Tác động môi trường “Càng ít tác động” trên mỗi kg (các chỉ thị) Hiện tại Tương lai Hình 1. Phương pháp nhận thức HSST của Cục Môi trường Châu Âu EEA Nguồn: (Trust in - European Training Partnership on Sustainable Innovation,2014) 10 Các khái niệm HSST nêu trên có các điểm chung sau đây: 1) HSST là một công cụ để nghiên cứu đánh giá phát triển bền vững. Nghiên cứu HSST là một phần của nghiên cứu phát triển bền vững trên thế giới.
HSST của một địa phương (tỉnh, vùng, quốc gia) càng cao thì vùng càng hướng về phát triển bền vững. Phát triển bền vững có ba nội hàm là: kinh tế, xã hội, môi trường. HSST không bỏ qua nội hàm xã hội nhưng nhấn mạnh nhiều về kinh tế và môi trường. 2) Có hai khái niệm HSST: HSST của sản phẩm và HSST của một vùng, địa phương, đô thị hay quốc gia.
HSST sản phẩm xem xét giá trị sản phẩm so với chi phí môi trường do sản phẩm tác động đến MT tự nhiên trong suốt vòng đời tồn tại của sản phẩm. HSST thái vùng xem xét các giá trị kinh tế thu được của vùng so với giá trị tác động đến MT và tài nguyên của vùng. Từ nhận diện các khái niệm của HSST, có thể khái quát các hướng nghiên cứu HSST trên thế giới như sau: 1. Đối tượng nghiên cứu về HSST trên thế giới Thông qua thu thập tài liệu tổng quan, xét về đối tượng, các hướng nghiên cứu HSST có thể nhận diện bao gồm: 1.
HSST của sản phẩm, dịch vụ hay nhà máy; 2. HSST của ngành kinh tế (ngành của vùng); 3. HSST của địa bàn lãnh thổ (địa phương - vùng); 4. Nghiên cứu HSST khác.
Dưới đây điểm qua các công trình nghiên cứu, trên cơ sở đó sẽ lựa chọn hướng nghiên cứu cho luận án. Nghiên cứu HSST của sản phẩm, dịch vụ hay nhà máy Định nghĩa ban đầu của khái niệm HSST là dành cho sản phẩm hay doanh nghiệp làm ra sản phẩm. Vì vậy nghiên cứu HSST cho sản phẩm nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới. Anne Marie de Jonge đã nghiên cứu cải thiện sản phẩm bảo vệ hoa màu ở Thụy Sỹ theo cách tiếp cận đánh giá vòng đời (LCA) (Anne Marie de Jonge, 2004).
Rattanapan và các cộng sự đã nghiên cứu 11 tính toán HSST của trang trại nuôi heo bằng cá ở Thái Lan với cách tiếp cận bằng bộ chỉ thị, đưa vào bảng hỏi để đánh giá (C. Chie Nakaniwa đã nghiên cứu về HSST cho sản phẩm/dịch vụ, tác giả đã thiết lập các chỉ thị đối với sản phẩm bền vững ở Nhật Bản. Tích hợp kết CÔNG TY quả HSST các sản phẩm cho công ty PHÂN PHÂN PHÂN PHÂN XƯỞNG XƯỞNG XƯỞNG XƯỞNG Kết quả HSST của sản phẩm Khai thác Chế tạo Vận chuyển Sử dụng Chôn lấp Hình 2. Hai cấp độ đánh giá HSST Nguồn:(Chie Nakaniwa, 2012) Bên cạnh đó, Liziane da Luz Seben và Istefani Carísio de Paula đã nghiên cứu các tiêu chí phát triển bền vững về kinh tế-môi trường cho việc khai thác sản suất giấy Cellulose từ chất thải thực vật (Liziane da Luz Seben & Istefani Carísio de Paula, 2012).
Ngoài ra còn có Marguerite Renouf và các cộng sự nghiên cứu HSST cho sản phẩm thịt ở Queensl và Australia (Marguerite Renouf và các cộng sự, 2017). Nghiên cứu HSST của địa bàn lãnh thổ (vùng) 1. Khái niệm Bên cạnh sản phẩm, doanh nghiệp, vùng lãnh thổ cũng là đối tượng nghiên cứu của chủ đề HSST. HSST vùng có thể được nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, như cho một nền kinh tế quốc gia, một vùng, công ty hay cho một sản phẩm (Jukka Hoffren, 2001).
Các phương pháp luận tính toán HSST vùng Nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học nói riêng và kể cả của nhiều vùng trên thế giới đã thực hiện tính toán và đánh giá HSST cho một vùng. Trong đó phải kể đến chương trình tính toán HSST cho vùng Kymenlaakso của Phần Lan. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng là một trong những quốc gia đi đầu trong việc ứng dụng khái niệm HSST vào thực tiễn nhằm tính toán HSST vùng. Ngoài ra, còn nhiều khu vực khác trên thế giới cũng đã thực hiện tính toán HSST cho địa phương mình.
Trong phần này, đề cập đến phương pháp luận tính toán HSST vùng của hai nước Phần Lan và Trung Quốc, để từ đó, so sánh, rút ra phương pháp luận tính toán HSST cho tỉnh Bình Dương và Đồng Nai. (1) Phương pháp luận của Phần Lan Viện Môi trường Phần Lan (SYKE), Trung tâm Môi trường khu vực đông nam Phần Lan, Hội đồng vùng Kymenlaasko và Viện Thule của Trường Đại học Oulu đã thực hiện một chương trình nghiên cứu và đúc kết thành một đề tài “HSST vùng- trường hợp nghiên cứu Kymenlaakso_ ECOREG”. Đề tài được thực hiện trong thời gian từ 9/2002 – 12/2004 cùng với sự tài trợ của Hội đồng Châu Âu và Chính phủ Phần Lan. Mục tiêu chương trình: - Thiết kế các chỉ thị HSST cho vùng Kymenlaakso và tính toán HSST trong năm 2000.
- Sử dụng các chỉ thị để đánh giá chính sách hiện tại và thiết kế những chính sách ưu tiên thực hiện cho Kymenlaakso. - Xây dựng một cơ chế lâu dài để ước tính sử tiến bộ của HSST vùng Kymenlaakso và những hành động cần thiết ưu tiên thực hiện để nâng cao HSST. - Khái quát hóa cơ chế để sử dụng cho các vùng khác của Phần Lan và EU. 13 Phương pháp luận: - Kết hợp các phương pháp như Đánh giá vòng đời sản phẩm (Life Cycle Assessment_LCA), Phân tích dòng chảy vật chất (Material Flow Analysis_MFA), thống kê số liệu có sẵn được lưu trữ bởi các thành viên của EU.
- Thu hút các thành phần trong vùng tham gia (thành phần kinh tế, chính quyền, nhà cầm quyền, tổ chức phi chính phủ) trong việc đánh giá các chỉ thị và lấy ý kiến về cơ chế ước tính lâu dài và những hành động cần ưu tiên để nâng cao HSST cho vùng. Công thức tính toán: Trong đề tài này, HSST vùng Kymenlaakso sẽ được nghiên cứu ở hai khía cạnh: 1. Với cách tiếp cận cơ bản: Tỷ số HSST của vùng_EE1 có thể được mô tả như sau: 𝐸𝐸1 = 𝑉𝐼/𝐸𝐼 (1) Với VI: Giá trị gia tăng kinh tế của các loại hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong vùng EI: Ảnh hưởng môi trường gây ra bởi hoạt động sản xuất các loại hàng hóa và dịch vụ Bên cạnh đó, tỷ số HSST của từng lĩnh vực riêng biệt có thể được tính toán như sau: 𝐸𝐸1𝑠 = 𝑉𝐼𝑠/𝐸𝐼𝑠 (2) Với s: các lĩnh vực của kinh tế (ví dụ như nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp gỗ, vận tải) 2. Với cách tiệp cận rộng hơn: Tỷ số HSST vùng_EE2 được mô tả như sau: 𝐸𝐸2 = 𝑈𝑉𝐼/𝑈𝐸𝐼 (3) Với UVI = VI + VIU 14 VIU : Giá trị của sản phẩm được sản xuất bởi những quá trình đầu nguồn (trung gian và kết thúc tiêu thụ) UEI = EI + EIU EIU : Những tác động môi trường của các quá trình đầu nguồn (sản phẩm nhập khẩu Mở rộng công thức, tỷ số HSST của từng lĩnh vực riêng biệt có thể được tính toán như sau: 𝐸𝐸2𝑠 = 𝑈𝑉𝐼𝑠/𝑈𝐸𝐼𝑠 (4) Với s: các lĩnh vực của kinh tế (ví dụ như nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp gỗ, vận tải) Trong đó: Giá trị của các loại hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong vùng: Giá trị này có thể được tính toán thông qua ba biến số: Giá trị gia tăng, GDP và Dòng ra.