mở đầu cho việc nghiên cứu văn hóa là Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, Trần Quốc Vượng, Chu Xuân Diên. Nhiều khái niệm được đưa ra có tính thuyết phục. Trong đó phải kể đến khái niệm của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm. Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam, ông cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [33, 10].
Cách hiểu này cho thấy văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra và có mối quan hệ chặt chẽ với con người. Có thể hiểu một cách khái quát như sau: Văn hóa là hoạt động của con người cải biến thế giới tự nhiên theo hướng tích cực, làm ra các giá trị vật chất và tinh 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thần, thể hiện tài năng, sự sáng tạo của con người. Văn hóa phản ánh cuộc sống của con người và sự phát triển của xã hội. Văn hóa ứng xử Trong cuốn Văn hoá giao tiếp, nhà nghiên cứu Phạm Vũ Dũng viết: “Văn hoá ứng xử là hệ thống tinh tuyển những nếp ứng xử, khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực ứng xử, trong mối quan hệ ứng xử giữa con người và các đối tượng khác nhau, thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm sinh lý… trong quá trình phát triển và hoàn thiện đời sống, đã được tiêu chuẩn hoá, trở thành chuẩn mực của cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng, toàn bộ xã hội, thừa nhận và làm theo” [10, 27].
Cũng nói về văn hóa ứng xử nhưng nghiên cứu dưới góc độ tâm lí học, tác giả Đỗ Long nêu quan điểm“Văn hóa ứng xử là một hệ thống thái độ, hành vi được xác định để xử lý các mối quan hệ giữa người với người trên các căn cứ pháp luật, đạo lý nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển của cộng đồng người của xã hội” [20, 73]. Trong đời sống, văn hóa ứng xử thể hiện ở hai hình thức cụ thể: một là cách xử sự của con người thông qua hành vi, thái độ đối với người khác, đối với xã hội và môi trường xung quanh (hình thức trực tiếp); hai là thông qua các ngành khoa học như triết học, văn học, nghệ thuật. nội dung văn hóa ứng xử của con người được phản ánh lại (hình thức gián tiếp). Dù được thể hiện dưới hình thức nào thì văn hoá ứng xử cũng phản ánh cách xử sự của con người đối với con người và môi trường sống xung quanh mình.
Nó mang tính dân tộc, tính kế thừa, được bổ sung tạo nên sự phong phú và đa dạng. Tóm lại, văn hóa ứng xử là là một hệ thống các quy tắc ứng xử chuẩn mực về hành vi, thái độ của con người đối với môi trường tự nhiên và xã hội. Thông qua văn hóa ứng xử có thể biết được sự phát triển của một quốc gia, một xã hội hay một tộc người. Văn hóa ứng xử là thước đo phản ánh tư duy, trình độ nhận thức, cách xử thế của con người.
Vấn đề giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh ở trƣờng THCS Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nêu rõ: “Đổi mới chương 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng nề về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”. Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đối với môn Ngữ Văn cũng xác định mục tiêu giáo dục học sinh là có ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc, góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam; có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và khả năng hội nhập quốc tế. Mục tiêu chương trình được xây dựng trên những cơ sở rất khoa học phù hợp đặc điểm tâm lí lứa tuổi. Học sinh cấp THCS có độ tuổi từ 11 – 14 tuổi, lứa tuổi này còn gọi là tuổi thiếu niên – độ tuổi có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người.
Đây là thời kì chuyển giao từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, các em có nhiều sự thay đổi về thể chất, tâm lí, sinh lí… Được giáo dục, định hướng tích cực trong giai đoạn này, học sinh sẽ trưởng thành về mọi mặt, góp phần hoàn thiện nhân cách của con người. Như vậy, vấn đề giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh ở trường THCS phải dựa vào mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông và đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh. Vài nét về văn hóa ứng xử trong văn học trung đại Việt Nam Đối với mỗi quốc gia, giá trị của nền văn học chính là việc phản ánh đầy đủ lịch sử tinh thần, lịch sử tâm hồn của dân tộc, của đất nước. Đối với nền văn học Việt Nam điều này càng thể hiện một cách rõ nét.
Trải qua bốn nghìn năm văn hiến, văn học Việt Nam thể hiện phong phú đời sống vật chất, tinh thần và văn hóa ứng xử của người Việt. Nền văn học đó đậm đà bản sắc dân tộc, nó được hình thành từ đời sống của nhân dân, từ quá trình dựng và giữ nước của dân tộc. Nó ghi lại những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ, nhận thức của người dân Việt Nam. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Song hành cùng sự phát triển của nền văn học, văn hóa ứng xử của con người đối với tự nhiên, ứng xử giữa người với người, ứng xử của con người với xã hội đã được văn học ghi lại dưới nhiều hình thức phong phú bắt đầu từ văn học dân gian nối tiếp với văn học trung đại cho đến văn học hiện đại.
Văn hóa ứng xử của con người trong văn học đặc biệt được chú ý để lại cho hậu thế những bài học về cách đối nhân xử thế, cách sống đẹp, hài hòa trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội. Trong văn học trung đại, văn hóa ứng xử với thiên nhiên, con người, xã hội được thể hiện phong phú dưới ngòi bút của các tác giả. Đặc biệt là văn hóa ứng xử giữa người với người đã được thể hiện sâu sắc, trở thành những tấm gương, những bài học có ý nghĩa giáo dục lớn. Văn học trung đại Việt Nam rất đề cao nét đẹp văn hóa ứng xử giữa con người với con người.
Rõ nét nhất là văn học phản ánh văn hóa ứng xử trong mối quan hệ gia đình và văn hóa ứng xử với các mối quan hệ xã hội. Gia đình là cội nguồn vun đắp tâm hồn mỗi con người. Gia đình chính là trường học lớn nhất của mỗi con người vì luôn dạy chúng ta những phẩm chất tốt đẹp và cách ứng xử đúng mực với những người xung quanh. Trong mối quan hệ gia đình con người luôn cảm nhận được giá trị của tình yêu thương, sự gắn bó giữa các thành viên trong các mối quan hệ vợ - chồng, cha mẹ - con cái, bề dưới với bề trên… Văn học trung đại Việt Nam phản ánh văn hóa ứng xử trong tình cảm vợ chồng rất giản dị mà cảm động.
Đó là những người vợ hết lòng vun vén cho hạnh phúc gia đình, chịu nhận về mình bao nỗi thiệt thòi để chồng có thể yên tâm hoàn thành công việc. Nhân vật Vũ Nương trong Chuyện Người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ để lại trong lòng người đọc sự cảm thương cho số phận oan khuất của nàng nhưng đồng thời lại làm sáng ngời lên vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là nét đẹp văn hóa ứng xử trong cuộc sống vợ chồng. Vũ Nương “tính tình đã thùy mị, nết na lại thêm tư dung tốt đẹp” khi được Trương Sinh cưới về làm vợ, biết chồng mình “có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức” nàng đã “luôn giữ gìn khuôn 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phép, không từng để vợ chồng phải đến thất hòa”. Cách mà Vũ Nương xây dựng gia đình trong ấm ngoài êm đó thật đáng được người ta nể phục, cách ứng xử của nàng luôn nhẫn nhịn, biết giữ mình, giữ gìn vun vén cuộc sống gia đình hạnh phúc.
Khi tiễn chồng đi lính lời dặn dò của nàng vô cùng xót thương, tình nghĩa, ân cần, chu đáo. Nàng không mong vinh hiển mà chỉ mong chồng trở về bình an. Nàng cảm thông những vất vả, gian lao của chồng nơi biên ải xa xôi. Những lời dặn dò, đưa tiễn khi chia tay chồng ngọt ngào xúc động lòng người của nàng thể hiện sự khéo léo trong ứng xử, làm vững lòng người đi.
Phẩm chất tốt đẹp của Vũ Nương còn được Nguyễn Dữ tái hiện trong hình ảnh người vợ thủy chung, luôn thương nhớ chồng. Khi bị chồng vì hiểu lầm mà ruồng rẫy, mắng chửi, đánh đập, đuổi đi, Vũ Nương vẫn cư xử phải phép. Nàng chỉ biết khóc, phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình, nàng hết lòng tìm cách hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ.Nàng đau đớn tuyệt vọng, đành cam chịu số phận khi giải thích mà Trương Sinh không lắng nghe. Đến cùng cực nỗi đau nàng than oán, phẫn uất, xin thần sông chứng giám nỗi oan khuất và sự trong sạch vô tội của mình để tìm đến cái chết.
Nguyễn Dữ cũng như người đọc luôn dành cho Vũ Nương một sự trân trọng, cảm thông và đề cao phẩm giá của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Hình ảnh người vợ thủy chung, yêu thương chồng, hy sinh vì chồng trong văn học trung đại không quá xa lạ. Đó là một đề tài mà các tác giả trung đại dành nhiều tình cảm. Trong xã hội phong kiến thân phận người phụ nữ nhỏ bé, thấp hèn, chỉ biết hy sinh mà ít được chồng mình sẻ chia, ghi nhận những công lao.
Nhưng Tú Xương dường như là một người chồng mang một tư tưởng mới, khác hẳn với những quan niệm phụ nữ nhất nhất phải nghe chồng “xuất giá tòng phu” đã ăn sâu bám rễ vào suy nghĩ của nam nhân xưa.