Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CON NGƯỜI, VÙNG ĐẤT BA BỂ VỚI TRUYỆN KỂ DÂN GIAN BẮC KẠN LƯU TRUYỀN Ở VÙNG HỒ BA BỂ 1. Con người và vùng đất Ba Bể 1. Vị trí địa lí Theo tài liệu [39], địa danh, địa giới Bắc Kạn được xác định như sau: Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Tỉnh Bắc Kạn được tái lập ngày 01/01/1997.
Có 8 đơn vị hành chính, đó là: Thành phố Bắc Kạn; các huyện: Bạch Thông, Ba Bể, Chợ Đồn, Chợ Mới, Na Rì, Ngân Sơn, Pác Nặm. Trong đó, Ba Bể là huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh, cách trung tâm tỉnh lị 60 km về phía Bắc, phía đông giáp huyện Ngân Sơn và huyện Nguyên Bình (tỉnh Cao Bằng), phía tây giáp huyện Chợ Đồn và tỉnh Tuyên Quang, phía bắc giáp huyện Pác Nặm và huyện Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng), phía nam giáp huyện Bạch Thông và huyện Chợ Đồn. Địa phận huyện Ba Bể ngày nay, vào thời Lí thuộc đất huyện Vĩnh Thông; thời nhà Lê nằm ở châu Bạch Thông thuộc phủ Thông Hóa. Thị trấn Chợ Rã là huyện lỵ Ba Bể, đồng bào địa phương gọi là Chợ Slo.
Tên gọi Chợ Rã xuất hiện sớm trong lịch sử, được nêu lên trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi và sau đó được nêu trong Đại Nam nhất thống chí, trong mục Thái Nguyên thổ sản. Hiện nay, huyện Ba Bể có 16 đơn vị hành chính gồm 15 xã: Thượng Giáo, Địa Linh, Bành Trạch, Cao Thượng, Đồng Phúc, Nam Mẫu, Quảng Khê, Khang Ninh, Cao Trĩ, Hoàng Trĩ, Yến Dương, Chu Hương, Hà Hiệu, Phúc Lộc, Mỹ Phương và 1 thị trấn: Chợ Rã. Có thể nói, bao nhiêu năm qua Ba Bể vẫn luôn trở thành một vùng đất hấp dẫn! 10 download by : skknchat@gmail.com Thuyền ta lướt nhẹ trên Ba Bể Trên cả mây trời trên núi xanh Mây trắng bồng bềnh trôi lặng lẽ Mái chèo khua bóng núi lung linh… Một lần đã tới, ôi Ba Bể Muốn ở đây thôi chẳng muốn về. Điều kiện tự nhiên Ba Bể là một huyện có địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi sông, suối, núi nên giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các thôn bản vùng cao.
Ở đây chủ yếu là núi cao xen lẫn những khối núi đá vôi hiểm trở, phân lớp dầy, trong quá trình cacxtơ tạo thành những hình dạng kì thú. Theo tài liệu [39], [40], [48], địa hình Ba Bể với nhiều đồi núi cao thấp khác nhau, độ cao trung bình so với mặt nước biển là 700m. Phía Bắc là dãy Phja Bjoóc có độ cao 1.578m chạy dài theo hướng đông - nam được ví như mái nhà của 3 huyện: Ba Bể, Chợ Đồn, Bạch Thông. Ngoài ra còn có các dãy núi chạy theo nhiều hướng thấp dần từ bắc sang đông nam chia cắt địa hình huyện thành những thung lũng có địa hình phức tạp.
Vể tổng quan có thể chia huyện Ba Bể thành hai vùng địa hình rõ rệt: vùng núi cao và vùng núi thấp. Vùng núi cao chủ yếu nằm ở hướng đông bắc và tây - tây bắc, vùng này rải rác có những dãy núi đá cao, độ dốc lớn, có các khu ruộng bậc thang xen kẽ. Ba Bể chủ yếu là đất lâm nghiệp chiếm trên 80%, đất nông nghiệp chiếm 10%. Đất canh tác chủ yếu là nương rẫy thích hợp cho việc trồng cây lương thực cạn, cây đặc sản, cây công nghiệp dài ngày và chăn nuôi đại gia súc.
Vùng núi thấp xen kẽ đồng ruộng tương đối bằng và thấp trũng tập trung ở khu trung tâm và hướng nam, thích hợp cho trồng các loại cây lương thực như: lúa nước, ngô, đậu đỗ các loại, cây ăn quả, cây đặc sản và chăn nuôi tiểu gia súc, gia cầm 11 download by : skknchat@gmail.com Huyện Ba Bể nằm ở khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm từ 21đến 23 độ C. Vùng đất Ba Bể có đủ nhiệt độ, nắng, mưa…thích hợp cho sự phát triển của động vật, thực vật. Khí hậu vùng hồ Ba Bể và sườn núi Phja Bjoóc gần như mát mẻ quanh năm. Nơi đây một năm được chia làm 2 mùa chính: Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình từ 22 đến 28 độ C, thường xảy ra mưa to gió lốc, gây lũ lụt.
Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình từ 14 đến 19 độ C (lạnh nhất là tháng 1). Mùa đông ở Ba Bể thường có sương muối, đặc biệt là ở khu vực khe núi hoặc có những đợt mưa phùn, gió bấc kéo dài không có lợi cho sự sinh trưởng của động thực vật và sinh hoạt của con người. Ba Bể có nhiều sông, suối, một số xã có sông Năng chảy qua rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Đồng bào các dân tộc có nhiều kinh nghiệm trong việc lợi dụng sức nước để phục vụ đời sống, phục vụ sản xuất như cối giã gạo, máy bật bông, làm thủy điện mini, xuôi mảng….Mặt khác, đường thủy sông Năng phối hợp với các đường bộ tạo nên hệ thống giao thông tương đối thuận lợi thông thương giữa các huyện Ba Bể, huyện Chợ Đồn, huyện Na Hang (Tuyên Quang).
Tuy nhiên, hàng năm từ tháng 6 đến tháng 10 thường có các trận mưa lũ lớn, các suối nhỏ thường gây lũ quét tại các xã vùng cao nên cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và sản lượng cây trồng. Huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn là một huyện miền núi có nguồn tài nguyên động thực vật quý hiếm nhưng do nạn chặt phá rừng làm nương rẫy và săn bắt bừa bãi nên tài nguyên rừng cạn kiệt, các loài động vật quý hiếm không còn nhiều. Hiện nay chỉ còn khu vực vườn quốc gia Ba Bể là rừng nguyên sinh với diện tích 23. Vườn quốc gia Ba Bể ngày nay là một di sản thiên nhiên quý giá với hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi có tới 417 loài thực vật, trong đó có nhiều gỗ quý như: đinh, lim, sến, nghiến, lát…ngoài các loại thực vật thân gỗ còn có hàng trăm loài phong lan, địa lan, 12 download by : skknchat@gmail.com trúc dây cùng nhiều cây dược liệu quý hiếm và 299 loài động vật có xương sống.
Nhiều loài động vật quý vẫn còn lưu giữ được như phượng hoàng đất, gà lôi, voọc mũi hếch. Trong hồ Ba Bể vẫn còn 49 loài cá nước ngọt trong đó có một số loài quý hiếm như cá chép kính, cá rầm xanh, cá chiên… Sông Năng gần như nằm trọn vẹn trong lòng huyện Ba Bể. Thượng nguồn của nó nằm trên hai xã: Bằng Thành và An Thắng còn có vàng sa khoáng mang lại nguồn lợi kinh tế đáng kể cho nhân dân các dân tộc huyện Ba Bể. Gắn liền với phía tây - nam của hồ Ba Bể là thác Đầu Đẳng có độ dốc cao, lưu lượng nước lớn, tạo ra khả năng thủy điện có công suất cao cho huyện Ba Bể.
Huyện Ba Bể được thiên nhiên ưu đãi có một danh lam thắng cảnh nổi tiếng là hồ Ba Bể rộng gần 500 ha. Hồ là nơi đổ vào của các con sông, suối, đó là sông Năng ở phía đông, suối Tả Han ở phía Bắc và suối Nam Cường ở phía tây bắc. Độ sâu trung bình của hồ là 20 - 35m, dung tích 90 triệu m3 nước. Do sự biến đổi của địa hình cacxtơ đã tạo thành một hồ trên núi đá vôi với các cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ.
Hồ gồm 3 bể lớn theo tên địa phương là Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng, có lẽ vì thế mới có tên gọi là hồ Ba Bể. Phía bắc hồ có một đảo nhỏ nằm ở giữa hồ đó là đảo Pò Giả Mải (đảo bà góa). Ba Bể còn có Ao Tiên với huyền thoại đầy tính nhân văn, có sông Năng với động Puông và thác Đầu Đẳng kì vĩ gắn liền với hồ Ba Bể trở thành khu danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở khu vực miền núi phía Bắc nước ta [39]. Với điều kiện tự nhiên như trên, đặc biệt là quần thể hồ và các dòng sông, con suối, núi rừng, hang động gắn liền với hệ động thực vật phong phú cùng với các truyền thuyết, phong tục, văn hóa, lễ hội trong vùng đã tạo nên một trong những vùng di sản thiên nhiên vật thể và phi vật thể đẹp vào bậc nhất ở phía Bắc của nước ta.
Không những thế, những sông, những suối, những động, những hồ đã được nhân dân các dân tộc vùng hồ Ba Bể thể hiện sinh động trong kho tàng truyện kể dân gian, trong đó có các truyện kể thuộc thể loại thần thoại - truyền thuyết, cổ tích. 13 download by : skknchat@gmail. Con người Ba Bể Ba Bể là huyện miền núi của tỉnh Bắc Kạn, là nơi hội tụ, sinh sống của các dân tộc anh em, thành phần dân tộc chính là : Tày, Kinh, Nùng, Dao, H’Mông, Hoa, Sán Chí và một số dân tộc khác. Theo khảo sát của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là qua các tài liệu [4], [39], [40], [48] cho thấy: dân tộc Tày có số dân đông nhất, sinh sống tập trung thành làng bản, nà, khuổi dọc theo thung lũng ven các sông, suối lớn của huyện.
Người Tày hiện đang cư trú trên địa bàn 16/16 xã, thị trấn của huyện Ba Bể. Trên mặt bằng chung, văn hóa truyền thống của người Tày ở Bắc Kạn tương đối thống nhất, sự khác biệt giữa các vùng, địa phương không đáng kể. Đó là những điều kiện thuận lợi để người Tày gìn giữ, phát huy tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc. Dân tộc Dao có số dân đông thứ hai sau dân tộc Tày (chiếm 18%).
Dân tộc Nùng chiếm 8% dân số, sống rải rác ở các thung lũng, soi bãi hoặc xen kẽ trong các bản làng của người Tày. Đồng bào Nùng cũng trồng lúa nước và trồng ngô cùng các loại hoa màu khác như đồng bào Tày. Dân tộc H’Mông chiếm khoảng 9%, bằng nửa số dân người Dao. Dân tộc Dao và dân tộc H’Mông sinh sống chủ yếu ở các vùng núi cao, làng bản thưa thớt, nhà cửa đơn sơ.
Dân tộc Hoa và Kinh chiếm khoảng 6,1% dân số, sống tập trung chủ yếu ở thị trấn, số đông làm nghề buôn bán. Trước đây nền kinh tế tự nhiên giữ vai trò khá quan trọng, đồng bào tiến hành săn bắt, hái lượm các sản vật tự nhiên bổ sung các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi làm bữa ăn hàng ngày. Có thể khẳng định, trải qua quá trình lịch sử lâu dài, các dân tộc đã xây dựng nên mối quan hệ gắn bó cộng đồng, việc làng, việc nước có nhau, từ việc nhà cửa tới việc ma chay, cưới xin, đắp đập, khơi mương, cấy lúa, làm cốm….