Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm là hoạt động đáp ứng nhu cầu sinh học thiết yếu hàng ngày của con người, đồng thời chịu sự quy định và định hình sâu sắc bởi các yếu tố văn hóa bản địa. Tại Việt Nam, hệ giá trị văn hóa phương Đông giữ vai trò nền tảng, chi phối trực tiếp đến thị hiếu, thói quen và nghi thức ăn uống của người dân. Trong bối cảnh Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thị trường nội địa mở cửa tạo điều kiện cho các tập đoàn thực phẩm nước ngoài thâm nhập mạnh mẽ, tạo ra áp lực cạnh tranh gay gắt đối với các doanh nghiệp trong nước.

Tuy nhiên, tác giả luận văn nhận định rằng phần lớn doanh nghiệp thực phẩm Việt Nam thời điểm này vẫn mang tâm lý chủ quan, cho rằng bản thân đã thấu hiểu người tiêu dùng nội địa nên chỉ áp dụng các kinh nghiệm sống rời rạc vào hoạt động thương mại. Việc thiếu các nghiên cứu bài bản về tác động của văn hóa phương Đông đến hành vi mua sắm và sử dụng thực phẩm khiến nhiều doanh nghiệp gặp lúng túng, thậm chí đứng trước nguy cơ thất bại ngay trên thị trường sân nhà.

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Thị Hồng Trang (chuyên ngành Kinh tế Đối ngoại, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, năm 2009) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này với các nhiệm vụ cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về văn hóa phương Đông và các mô hình hành vi người tiêu dùng đối với mặt hàng thực phẩm.
  2. Khảo sát thực trạng tiêu thụ thực phẩm tại Việt Nam và phân tích sự tác động của các giá trị văn hóa phương Đông đến bốn giai đoạn trong chuỗi hành vi tiêu dùng của người Việt.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp định hướng văn hóa trong quản trị sản phẩm, phân phối và truyền thông tiếp thị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp ngành thực phẩm Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ảnh hưởng của văn hóa phương Đông đến hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm của người Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào thị trường nội địa, phân tích các nhóm mặt hàng thực phẩm chủ yếu và chuỗi hành vi tiêu dùng dựa trên các nguồn dữ liệu thống kê từ năm 2005 đến năm 2008.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở lý luận văn hóa, khóa luận tiếp cận khái niệm văn hóa theo định nghĩa tổng quát của Nguyễn Trần Bạt (2006) kết hợp tài liệu thống kê của UNESCO (2006), xác định văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người tích lũy qua thực tiễn tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội. Luận văn sử dụng khung cấu trúc văn hóa gồm ba thành tố: biểu tượng văn hóa (ngôn ngữ, hình ảnh, ký hiệu), giá trị văn hóa (thẩm mỹ, lối sống, tín ngưỡng tôn giáo) và tiêu chuẩn văn hóa (chuẩn mực đạo đức, tập tục truyền thống). Về mặt địa lý nhân văn, tác giả dẫn chiếu công trình "Giới thiệu văn hóa phương Đông" của GS.TS. Mai Ngọc Chử (chủ biên, 2008) để phân chia không gian phương Đông thành sáu khu vực: Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Nam Á, Trung Á, Bắc Á, và Tây Á - Bắc Phi; đồng thời rút ra bốn đặc trưng văn hóa phương Đông cốt lõi:

  • Đậm nét tính chất nông nghiệp nông thôn.
  • Đề cao tính cộng đồng và lối ứng xử tình cảm, mềm dẻo.
  • Hòa đồng, thuận theo tự nhiên và tận dụng thiên nhiên.
  • Coi trọng giá trị truyền thống, e ngại sự thay đổi.

Về lý thuyết hành vi tiêu dùng, tác giả kế thừa mô hình của Leo G. Schiffman (giáo trình Consumer Behavior, xuất bản lần thứ 9), định nghĩa của Hiệp hội Marketing Mỹ (AMA) và tài liệu Marketing căn bản của Philip Kotler (2005). Chuỗi hành vi người tiêu dùng được cụ thể hóa thành quy trình bốn bước: lựa chọn sản phẩm (nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá phương án), quyết định mua, sử dụng sản phẩm, và đánh giá/xử lý loại bỏ sản phẩm sau khi sử dụng. Đồng thời, hành vi này chịu sự tác động tương hỗ từ bốn nhóm yếu tố: văn hóa, xã hội (giai tầng, nhóm tham khảo), cá nhân (độ tuổi, nghề nghiệp, kinh tế, lối sống), và tâm lý (động cơ, nhận thức, niềm tin, thái độ). Khái niệm thực phẩm được chuẩn hóa dựa trên tài liệu của Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế (Codex Alimentarius).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được thực hiện hoàn toàn thông qua phương pháp thu thập dữ liệu tại bàn (desk research), phân tích, tổng hợp lý thuyết và so sánh đối chiếu. Tác giả vận dụng quan điểm duy vật biện chứng để xem xét mối liên hệ giữa các chuẩn mực văn hóa với hành vi tiêu dùng thực tế trong bối cảnh chuyển dịch kinh tế.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), Trung tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn (AGROINFO thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), Bộ Công Thương, Hiệp hội Chè Việt Nam (VISTA), Hiệp hội Cà phê Việt Nam, Hiệp hội Bia - Rượu - Nước giải khát Việt Nam và các khảo sát hành vi tiêu dùng của Báo Sài Gòn Tiếp Thị.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Lý luận chung về văn hóa phương Đông và ảnh hưởng của văn hóa đến hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm

Chương I tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng. Tác giả phân tích nguồn gốc thuật ngữ văn hóa trong tiếng Latinh (cultus) và chữ Hán, hệ thống hóa các cách tiếp cận phân loại văn hóa (vật chất - tinh thần; phương Đông - phương Tây). Trong bốn đặc tính của văn hóa phương Đông, tính nông nghiệp nông thôn quy định nguồn lương thực gốc thực vật và phương thức chế biến tươi nóng; tính cộng đồng hình thành thói quen chia sẻ ẩm thực; tư tưởng hòa hợp tự nhiên dẫn đến việc khai thác thảo mộc, gia vị đồng quê; và tính bảo thủ truyền thống duy trì các khẩu vị lâu đời.

Ở phần hành vi tiêu dùng, chương I làm rõ cơ chế tác động của ba yếu tố văn hóa: biểu tượng văn hóa kích thích nhận biết nhu cầu và truyền tải thông điệp; giá trị văn hóa biến nhu cầu tự nhiên thành ước muốn cụ thể; và tiêu chuẩn văn hóa định hình ranh giới những gì được xã hội chấp nhận hoặc kiêng kỵ trong việc ăn uống.

Chương II: Ảnh hưởng của văn hóa phương Đông đến hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm của người Việt Nam

Chương II là phần trọng tâm chứa đựng các dữ liệu thực chứng về thị trường thực phẩm Việt Nam giai đoạn 2005 - 2008. Tác giả phân tích cơ cấu tiêu thụ năm nhóm hàng thực phẩm chủ lực của các hộ gia đình (quy mô chuẩn bốn người) và diễn biến giá cả thông qua chỉ số giá tiêu dùng (CPI).

Nhóm mặt hàng thực phẩm Mức tiêu thụ bình quân / tháng Tỷ trọng hoặc cơ cấu chi tiết trong nhóm
Lương thực 32,00 kg / hộ Gạo chiếm 87,50% (28,00 kg / hộ); ưu tiên gạo tẻ, dòng cao cấp là gạo Tám
Rau, củ, quả 49,70 kg / hộ Rau chiếm 28,20 kg; hoa quả chiếm 21,50 kg (tiêu thụ rau muống, họ cải, táo, lê, dưa hấu)
Thịt gia súc 11,50 kg / hộ Thịt lợn chiếm 58,60% (7,36 kg); thịt bò chiếm 22,10% (2,80 kg)
Thịt gia cầm 3,20 kg / hộ Thịt gà chiếm chủ yếu (2,40 kg); chuộng gà thả vườn tự nhiên hơn gà công nghiệp
Thủy, hải sản 7,85 kg / hộ Thủy sản nước ngọt chiếm 78,30% (6,15 kg); hải sản chiếm 21,70% (1,70 kg)
Đồ uống phổ biến Tính theo đầu người Chè: 0,40 kg/người; Cà phê: 0,14 kg/người; Bia: 1,83 lít/người

Về giá cả và cơ cấu chi tiêu, số liệu Tổng cục Thống kê năm 2006 chỉ ra rằng nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống chiếm 42,85%, nhóm Đồ uống và thuốc lá chiếm 4,56% trong rổ hàng hóa tính CPI (tổng chi tiêu cho thực phẩm đạt 47,41%). Đến tháng 12/2008, chỉ số CPI của nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống đã tăng lên mức 171,79% so với năm gốc 2005 (lương thực tăng 191,11%). Sức mua biến động mạnh nhất vào Quý I và Quý IV do trùng với dịp Tết Nguyên Đán và mùa lễ hội truyền thống.

Kênh phân phối Tỷ trọng hệ thống (2006) Đặc điểm tiêu thụ thực phẩm của người tiêu dùng
Chợ truyền thống 44,00% Chiếm ưu thế tuyệt đối về thực phẩm tươi sống; trên 80% nội trợ mua sắm tại đây (86% rau quả, 86,3% thịt lợn, 78,9% hải sản)
Chợ cóc, chợ tạm 6,00% Phục vụ khoảng 17% người tiêu dùng nội trợ nhờ vị trí gần khu dân cư và sự tiện lợi
Cửa hàng thực phẩm 40,00% Cung cấp mạng lưới bán lẻ xen kẽ tại các đô thị
Siêu thị hiện đại 10,00% Chiếm 40% thị phần thực phẩm chế biến sẵn (so với 5% của chợ); khách hàng chủ yếu từ 25 - 55 tuổi

Tác giả liên hệ các số liệu trên với sự chi phối của văn hóa phương Đông:

  • Giai đoạn lựa chọn: Tính chất nông nghiệp và thuận theo tự nhiên thúc đẩy việc chọn gạo tẻ, rau quả theo mùa, thủy sản nước ngọt và thực phẩm tươi sống còn nguyên trạng.
  • Giai đoạn mua sắm: Tính cộng đồng và sự giao tiếp tình cảm duy trì sức sống của chợ truyền thống, nơi người mua và người bán trao đổi thông tin trực tiếp, mặc cả và tạo dựng mối quan hệ quen biết.
  • Giai đoạn sử dụng: Bữa cơm gia đình phản ánh tính cộng đồng qua việc dùng chung mâm cơm, bát nước chấm; mâm cỗ ngày Tết và các dịp hiếu hỷ thể hiện tính tôn nghiêm của truyền thống thờ cúng tổ tiên.
  • Giai đoạn đánh giá, loại bỏ: Tính tiết kiệm của nền văn minh lúa nước khiến người tiêu dùng có xu hướng tận dụng triệt để thức ăn thừa, đồng thời thái độ phê phán dựa trên dư luận cộng đồng tác động mạnh đến uy tín sản phẩm khi xảy ra sai sót.

Chương III: Giải pháp để hoàn thiện hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp ngành thực phẩm Việt Nam

Chương III phân tích các cơ hội mở rộng thị trường, tiếp cận công nghệ và các thách thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, tiềm lực tài chính khi Việt Nam hội nhập WTO. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra bốn nhóm giải pháp định hướng văn hóa cho doanh nghiệp nội địa:

  1. Nâng cao nhận thức văn hóa: Doanh nghiệp cần xóa bỏ tư duy kinh nghiệm chủ quan, chủ động nghiên cứu thị hiếu ẩm thực và tập quán tiêu dùng của người Việt như một chiến lược kinh doanh chính quy.
  2. Hoàn thiện sản phẩm: Đối với thực phẩm tươi sống, cần tập trung quy trình bảo quản giữ độ tươi nguyên bản; đối với thực phẩm chế biến sẵn, phải nghiên cứu các món ăn mang hương vị truyền thống tiện lợi hóa; bao bì phải kín đáo, vệ sinh nhưng giữ được màu sắc ấm cúng, gần gũi với thị hiếu Á Đông.
  3. Tổ chức phân phối và trưng bày: Kết hợp phát triển kênh bán lẻ hiện đại với việc duy trì, chuẩn hóa chuỗi cung ứng tại kênh chợ truyền thống; cách trưng bày cần gợi nhắc tính tươi ngon, thuận tiện cho việc quan sát trực tiếp của khách hàng.
  4. Chiến lược quảng cáo và truyền thông: Nội dung thông điệp quảng cáo phải tôn vinh các giá trị gia đình, sự sum họp, tình làng nghĩa xóm và lòng hiếu thảo; hình thức thể hiện cần sử dụng hình ảnh gần gũi với đời sống nông thôn, tránh các nội dung gây sốc hoặc đi ngược thuần phong mỹ tục phương Đông.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa bức tranh tiêu dùng thực phẩm tại Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2008 thông qua các chỉ số cụ thể: xác định tỷ trọng chi tiêu thực phẩm chiếm 47,41% rổ hàng hóa CPI năm 2006; mức tiêu thụ hàng tháng của hộ gia đình với 32 kg lương thực, 49,7 kg rau quả và 11,5 kg thịt gia súc; cùng cơ cấu phân phối thực phẩm tươi sống với hơn 80% thị phần thuộc về chợ truyền thống.

Về mặt học thuật và ứng dụng, đóng góp của tác giả thể hiện ở việc liên kết khung lý thuyết văn hóa phương Đông với mô hình phân tích hành vi người tiêu dùng của phương Tây. Thay vì xem xét văn hóa như một biến số ngoại sinh chung chung, luận văn đã chi tiết hóa tác động của từng đặc tính văn hóa (tính nông nghiệp, tính cộng đồng, tính thuận nhiên, tính truyền thống) vào từng khâu cụ thể: nhận biết nhu cầu, mua sắm, nấu nướng - thưởng thức và đánh giá sau tiêu dùng. Khóa luận cung cấp hệ thống giải pháp tiếp thị mang tính bản địa hóa rõ nét cho các doanh nghiệp chế biến và phân phối thực phẩm trong nước trước sức ép cạnh tranh của hàng ngoại nhập thời kỳ hậu gia nhập WTO.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận mang những giới hạn nhất định do tác giả tự nhìn nhận: nghiên cứu được hoàn thành trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp bậc cử nhân nên nguồn lực, thời gian và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp và bàn giấy (desk research) từ các báo cáo ngành giai đoạn 2005 - 2008 mà chưa triển khai được các cuộc điều tra khảo sát xã hội học sơ cấp với kích thước mẫu lớn.

Hướng phát triển tiếp theo của đề tài là xây dựng các bảng hỏi định lượng để kiểm định mô hình bằng các công cụ kinh tế lượng, phân tích sự biến thiên của hành vi tiêu dùng thực phẩm theo các tiểu vùng văn hóa khác biệt tại Việt Nam (Bắc - Trung - Nam), cũng như đánh giá sự dịch chuyển thế hệ khi người tiêu dùng trẻ tiếp xúc ngày càng nhiều với lối sống phương Tây hiện đại.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên các chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Quản trị kinh doanh, Marketing và Văn hóa học khi tìm kiếm cách tiếp cận liên ngành giữa văn hóa và thương mại. Tài liệu cũng cung cấp thông tin thực chứng cho các nhà quản lý doanh nghiệp thực phẩm, đơn vị bán lẻ hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) trong việc hoạch định sản phẩm và thiết kế thông điệp truyền thông.

Các phần có giá trị tham khảo cao nhất gồm:

  • Hệ thống số liệu thống kê cơ cấu tiêu dùng lương thực, thực phẩm, đồ uống và chỉ số giá tiêu dùng thời kỳ 2005 - 2008.
  • Bảng phân tích so sánh kênh phân phối thực phẩm truyền thống (chợ dân sinh, chợ cóc) và kênh hiện đại (siêu thị, cửa hàng tiện ích).
  • Khung phân tích ảnh hưởng của bốn đặc trưng văn hóa phương Đông đến từng bước trong quy trình ra quyết định mua sắm của người Việt.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận xác định các mặt hàng thực phẩm chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng chi tiêu dùng của người dân Việt Nam năm 2006?
Dựa trên số liệu rổ hàng hóa tính Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Tổng cục Thống kê năm 2006, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất với tổng cộng 47,41%, bao gồm nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống chiếm 42,85% và nhóm Đồ uống, thuốc lá chiếm 4,56%.

Cơ cấu tiêu thụ thịt của một hộ gia đình bốn người tại Việt Nam mỗi tháng được ghi nhận như thế nào?
Trung bình mỗi hộ gia đình tiêu thụ 11,50 kg thịt gia súc (trong đó thịt lợn chiếm ưu thế tuyệt đối với 7,36 kg tương đương 58,60%; thịt bò đạt 2,80 kg tương đương 22,10%) và 3,20 kg thịt gia cầm (chủ yếu là thịt gà với 2,40 kg). Người tiêu dùng ưu tiên chọn thịt tươi sống từ gia cầm nuôi tự nhiên hơn gia cầm công nghiệp.

Thị phần phân phối thực phẩm tươi sống giữa kênh chợ truyền thống và siêu thị có sự chênh lệch ra sao?
Chợ truyền thống là kênh bán lẻ thực phẩm tươi quan trọng nhất với hơn 80% người nội trợ lựa chọn, nắm giữ 86% lượng rau quả, 86,3% lượng thịt lợn và 78,9% lượng hải sản bán ra. Ngược lại, siêu thị chỉ chiếm 10% cơ cấu kênh phân phối chung, nhưng lại chiếm ưu thế ở nhóm thực phẩm chế biến sẵn với 40% thị phần (so với 5% của chợ truyền thống).

Bốn đặc trưng cơ bản của văn hóa phương Đông được tác giả vận dụng xuyên suốt đề tài là gì?
Tác giả dẫn chiếu lý thuyết để đúc kết bốn đặc tính cốt lõi: (1) Mang đậm tính chất nông nghiệp nông thôn; (2) Đề cao tính cộng đồng và cách ứng xử tình cảm, mềm dẻo; (3) Hòa đồng, thuận theo tự nhiên và tận dụng thiên nhiên phục vụ đời sống; (4) Đề cao giá trị truyền thống và e ngại sự thay đổi.

Nhóm tuổi nào tại Việt Nam thời điểm nghiên cứu có tỷ lệ chọn siêu thị làm nơi mua thực phẩm chính cao nhất?
Số liệu từ Trung tâm Nghiên cứu người tiêu dùng & doanh nghiệp cho thấy nhóm người tiêu dùng từ 40 đến 55 tuổi có tỷ lệ chọn siêu thị cao nhất (18,90%), tiếp theo là nhóm 25 đến 39 tuổi (15,40%), nhóm từ 55 tuổi trở lên (14,70%), và thấp nhất là nhóm dưới 25 tuổi (chỉ chiếm 1,00%).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Hồng Trang đã cung cấp cái nhìn toàn diện về tác động của các giá trị văn hóa phương Đông đến hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm tại Việt Nam. Bằng việc phân tích thực trạng tiêu dùng thông qua các số liệu thống kê cụ thể giai đoạn 2005 - 2008, công trình chỉ rõ sức ảnh hưởng sâu sắc của lối sống nông nghiệp, tính cộng đồng và tâm lý trọng truyền thống lên thói quen mua sắm, ăn uống của người dân. Nghiên cứu khẳng định văn hóa là yếu tố then chốt giúp các doanh nghiệp thực phẩm nội địa xây dựng chiến lược sản phẩm, kênh phân phối và truyền thông tiếp thị phù hợp nhằm giữ vững thị trường nội địa trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.