Chương I: Tìm hiểu về văn hóa kinh doanh và ảnh hưởng của văn hóa kinh doanh đến đàm phán thương mại quốc tế. Chương II: Văn hóa kinh doanh của Anh và những ảnh hưởng đến đàm phán thương mại quốc tế tại quốc gia này. Chương III: Một số giải pháp về mặt văn hóa để nâng cao hiệu quả đàm phán thương mại Việt Nam – Anh. Do hạn chế về khả năng và thời gian nghiên cứu nên khóa luận này khó tránh khỏi nhiều thiếu sót, vì vậy người viết rất mong nhận được những góp ý quý báu từ các thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Trước khi bước vào phần trọng tâm của luận văn, người viết xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, đặc biệt là Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Ánh đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện để người viết hoàn thành khóa luận này. Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2009 Sinh viên Hoàng Thị Hồng Nhung 2 CHƢƠNG I TÌM HIỂU VỀ VĂN HOÁ KINH DOANH VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐẾN ĐÀM PHÁN THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. Khái niệm Khi du lịch tới các quốc gia khác nhau, chúng ta thường nhận thấy ở mỗi nơi, mỗi địa điểm, con người lại có những cách sinh hoạt, sống và làm việc rất khác nhau. Ví như chỉ xung quanh chuyện giờ ăn tối, ở mỗi nước lại có những phong tục riêng.
Ở Mỹ, giờ ăn tối thường là khoảng 6h, trong khi ở Tây Ban Nha, các hàng quán phục vụ ăn đêm thường không mở cửa trước 8 - 9h. Ở Mỹ, người dân có thói quen mua sắm ở các siêu thị lớn 1 đến 2 lần một tuần trong khi người dân Italia lại có thói quen mua bán ở các cửa hàng nhỏ gần nơi sinh sống mỗi ngày. Đó là những ví dụ thực tiễn rất đơn giản minh chứng cho sự khác biệt về văn hóa giữa các quốc gia. Vậy văn hóa là gì? Xét về mặt ngôn từ, văn hóa xuất phát từ một thuật ngữ La tinh là “Cultus” có nghĩa là “trồng trọt”.
Thuật ngữ này có nội hàm khá rộng, bao gồm hai mặt: văn hóa vật chất (Cultus agris) – tức là trồng nên cây trái để giúp con người tồn tại và văn hóa tinh thần (Cultus animi) – tức là giáo dục, cải tạo con người sống tốt đẹp hơn. Bắt nguồn từ thuật ngữ này, trong tiếng Anh và tiếng Pháp, văn hóa là culture, tiếng Đức là kultur. Mỗi dân tộc, mỗi nền văn minh lại có những quan niệm khác nhau về văn hóa, chúng ta sẽ xem xét một vài định nghĩa văn hóa sau đây. Taylor, một nhà nhân chủng học người Anh thì “văn hóa hay văn minh xét theo nghĩa nhân loại học nói chung, là tổng thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ khả năng và thói quen nào mà con người thu nhận được với tư cách là thành 3 viên của xã hội.
Điều kiện văn hóa trong các xã hội loài người khác nhau, ở một chừng mực có thể kiểm soát được theo những nguyên tắc chung, là đối tượng thích hợp để nghiên cứu tư duy và hành động của con người”1. Định nghĩa này đã bao quát khá đầy đủ các yếu tố cấu thành nên văn hóa song lại chưa có sự quan tâm đúng mực tới văn hóa vật chất. Hội nghị Thế giới về Chính sách Văn hóa (1982) đã định nghĩa văn hóa như sau: “Theo nghĩa rộng, ngày nay văn hóa có thể được coi là tổng hợp các đặc tính về tâm hồn, vật chất, trí tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một cộng đồng mang tính xã hội. Nó không chỉ bao gồm nghệ thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của con người, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng.
Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa cho chúng ta trở thành những nhân vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”. 2 Từ đó có thể thấy văn hóa là tổng thể giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra và tồn tại trong chính đầu óc con người.
Văn hóa không bị bó hẹp trong một vài lĩnh vực mà tồn tại trong mọi lĩnh vực của đời sống con người. Chính vì văn hóa phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của con người mà đời sống ấy lại không giống nhau ở những miền đất khác nhau, những dân tộc khác nhau nên “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”3 (Federico Mayor – Tổng Giám đốc UNESCO). Dù được tiếp cận ở góc độ nào, khía cạnh nào thì văn hóa cũng hàm ý về các hành vi, tư duy, tình cảm, 1 Ban tư tưởng Văn hóa Trung ương – Bộ Văn hóa Thông tin – Viên Quản trị doanh nghiệp (2001), Văn hóa và kinh doanh, NXB Lao động Hà Nội, tr 23. 2 Nguyễn Văn D ân (2006), Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa , NXB Khoa học Xã hội, HN, tr 67 3 Nguyễn Khoa Điềm (2001), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, NXB Chính trị Quốc gia, HN 4 các sản phẩm vật chất của các cộng đồng người riêng biệt, vốn được đúc kết, lan truyền và chia sẻ từ đời này sang đời khác, được truyền bá từ nơi này sang nơi khác.
Để dễ dàng trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa và đàm phán, chúng ta sẽ đi theo cách hiểu về văn hóa của Czinkota “Văn hóa là một hệ thống những cách ứng xử đặc trưng cho các thành viên của bất kì xã hội nào. Hệ thống này bao gồm mọi vấn đề từ cách nghĩ, nói, làm quen, ngôn ngữ, sản phẩm vật chất và những tình cảm – quan điểm chung của các thành viên đó”4. Trong bối cảnh các hoạt động giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… đang diễn ra hết sức nhộn nhịp, thì các quốc gia hầu hết là đa văn hóa, đa sắc tộc, với nhiều tôn giáo và nhiều ngôn ngữ khác nhau. Do vậy việc hiểu đúng khái niệm văn hóa sẽ tạo cơ sở cho chúng ta có cách tiếp cận phù hợp với những nền văn hoá phong phú đa dạng ở các quốc gia khác nhau.
Những nét đặc trưng của Văn hóa: Văn hoá mang tính tập quán: Văn hoá miêu tả những hành vi được chấp nhận hay không được chấp nhận trong xã hội. Ví dụ, người Mỹ khi chào hỏi một cách thân mật thường có cử chỉ ôm hôn, tuy nhiên ở Việt Nam điều này là không được chấp nhận, thay vào đó người Việt Nam thường bắt tay và mỉm cười. Văn hoá mang tính cộng đồng cao : Văn hoá không thể tồn tại do chính bản thân nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, tác động qua lại và củng cố của mọi thành viên trong xã hội để trở thành tập quán. Ví dụ, xã hội phong kiến coi trọng vai trò của người đàn ông, khi đó, chỉ có nam giới được học hành, phụ nữ không được phép đến trường và tham gia thi cử.
Cả xã hội thừa nhận việc này và ngay cả bản thân người phụ nữ cũng chấp nhận điều đó như một lẽ tất yếu mà ít có sự phản kháng hay chống đối. 4 Nguyễn Hoàng Ánh (2004) – “Vai trò của văn hóa trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hóa kinh doanh của Việt Nam”, luận án tiến sĩ, tr 11 5 Văn hoá mang tính dân tộc: Văn hoá tạo nên nếp suy nghĩ và cảm nhận chung của từng dân tộc, mà người thuộc những dân tộc khác không dễ gì hiểu được. Đây cũng là lý do vì sao người Việt Nam say mê với các điệu hò quan họ, hay các điệu lý dân gian, trong khi người Brazil lại cuồng nhiệt với những điệu Samba bốc lửa. Văn hoá có thể học hỏi được : Văn hoá không chỉ truyền lại từ đời này qua đời khác, mà nó còn phải do học mới có.
Do vậy, con người ngoài vốn văn hoá có được từ nơi mình sinh ra và lớn lên, còn có thể học được văn hoá từ những nơi khác. Người Việt Nam trước đây không hề có khái niệm đón Giáng sinh hay mừng năm mới Dương lịch, nhưng từ khi Thiên chúa giáo cùng nhiều tôn giáo khác du nhập vào nước ta, dần dần người ta cũng quen với việc coi ngày Giáng sinh hay ngày tết Dương lịch là ngày lễ lớn. Văn hoá mang tính chủ quan: Người dân thuộc các nền văn hoá khác nhau có suy nghĩ khác nhau về cùng một sự vật. Có sự vật được chấp nhận ở nền văn hoá này, nhưng lại không được chấp nhận ở nền văn hoá khác.
Do vậy cùng một sự vật hiện tượng có thể được hiểu khác nhau ở các nền văn hoá khác nhau. Ví dụ, đối với người phương Tây, con số 13 là con số mang lại xui xẻo. Ở nhiều tòa nhà, người ta đổi tên tầng 13 thành 12A hay 14A. Không ai tổ chức các dịp đặc biệt như giới thiệu sản phẩm mới hay khai trương cửa hàng vào thứ Sáu ngày 13.
Tuy nhiên, với người Trung Quốc, con số 13 không phải là dấu hiệu của sự xui xẻo. Đối với họ, con số 4 mới là con số mang lại nhiều vận xấu.5 Văn hoá mang tính khách quan : Văn hoá thể hiện quan điểm chủ quan của từng dân tộc, nhưng lại có cả một quá trình hình thành mang tính lịch sử, xã hội, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người. Ngay khi con người biết sống thành bầy đàn, cùng tuân theo một kỷ luật nhất định, là đã hình thành nên một tổng thể những hệ thống biểu trưng chi phối cách ứng xử 5 Nguyễn Ngọc Băng Châu – “Những điều thú vị về con số 13” http://my.com/bang_chaukh/blog/show.dml/1531239 6 và sự giao tiếp trong một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có đặc thù riêng, tức là đã hình thành văn hoá. Chính vì vậy văn hoá tồn tại khách quan ngay cả với những thành viên trong cộng đồng.
Chúng ta chỉ có thể học hỏi các nền văn hoá, chấp nhận nó, chứ không thể biến đổi chúng theo ý muốn chủ quan của mình.