chương 1 còn tổng quan quá trình hình thành, nội dung của UKVFTA. Từ các nội dung trên, nghiên cứu sẽ lấy làm cơ sở để lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp để đánh giá tác động của ba FTAs thế hệ mới đến xuất khẩu hàng hóa Việt Nam. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nội dung tổng quan 1.1 Các nghiên cứu lý thuyết về đánh giá tác động của FTA Lý thuyết cân bằng tổng thể và mô hình cân bằng tổng thể CGE (Computable General Equilibrium).
Dựa trên lý thuyết của Walras vào năm 1870, mô hình CGE đã được xây dựng để phân tích giá cả và thương mại giữa hai thị trường quốc tế trong mối quan hệ mắt xích nhiều thị trường và nhiều mặt hàng. Mô hình CGE có thể bao gồm bất kỳ số lượng hàng hóa và quốc gia đối tác hoặc đặc điểm kinh tế nào miễn là không có giới hạn về dữ liệu hoặc bộ nhớ. Các mô hình dựa trên máy tính này thường thực hiện phân tích cân bằng chung với nhiều chiều. Phân tích cân bằng chung xem xét tất cả các tương tác quan trọng giữa các thị trường và có thể đưa ra câu trả lời đầy đủ và chính xác hơn cho các câu hỏi chính sách.
Lý thuyết cân bằng cục bộ của Marshall (1890) là việc xác định giá cân bằng củamột hàng hóa bằng cách xác định giao điểm của đường cung và đường cầu, khi các điều kiện khác không thay đổi. Đây là lý thuyết điển hình cho phân tích cân bằng từng phần. Lý thuyết này sau đó được nhiều nghiên cứu tiếp tục phát triển như Viner (1950), Cheong (2010),… Viner (1950) đã nghiên cứu lý thuyết chuyển hướng thương mại và tạo lập thương mại. Tác giả đã sử dụng phân tích cân bằng từng phần để chứng minh rằng các FTA không phải lúc nào cũng tạo ra lợi thế cho các thành viên như hầu hết các 5 nghiên cứu trước đây đã chỉ ra.
Cụ thể, sự sáng tạo thương mại mang lại những tác động tích cực đến phúc lợi trong khi chuyển hướng thương mại gây ra những tác động tiêu cựcvà sức mạnh tương đối của hai tác động này sẽ quyết định sự thay đổi về phúc lợi của một hiệp định thương mại. Lý thuyết về nhu cầu đối với sản phẩm được phân biệt theo nơi sản xuất của Armington (1969). Nghiên cứu này cung cấp hỗ trợ lý thuyết cho một số thực hành nghiên cứu của mô hình cân bằng từng phần mà theo đó các sản phẩm có xuất xứ từ các quốc gia khác nhau và được cung cấp đồng thời trên cùng một thị trường không có khả năng thay thế hoàn hảo cho nhau. Mô hình lực hấp dẫn trong thương mại song phương.
Mô hình này dựa trên giả định của định luật vạn vật hấp dẫn của Newton và sử dụng các số liệu thống kê trong quá khứ để đánh giá tác động thực nghiệm của các FTA đã có hiệu lực, bằng cách thông một loạt các nhân tố ảnh hưởng đến thương mại của quốc gia được xem xét. Mô hình này được Tinbergen (1962) sử dụng lần đầu tiên. Sau đó, nhiều nghiên cứu khác cũng sử dụng mô hình này nhưng thêm nhiều biến hơn. Vì là một mô hình đánh giá tác động hậu kỳ nên mô hình cần một lượng dữ liệu trong nhiều năm.
Mặc dù điểm mạnh của mô hình là các kết có sức giải thích cao nhưng mô hình này, tuy nhiên các kết quả có thể bị sai lệch, do đó cần những giải pháp đi kèm để giải quyết các khuyết tật của mô hình. Lý thuyết về mô hình Dự án Phân tích Thương mại Toàn cầu - GTAP do Thomas. Hertel thành lập vào năm 1992. Mô hình nhằm ước tính về tác động của hiệp định thương mại đối với từng quốc gia, thương mại quốc tế và phúc lợi trên toàn thế giới (Hertel, 1997).
Mô hình GTAP tiêu chuẩn là một mô hình cân bằng tổng thể (CGE) đa vùng, nhiều giai đoạn, có thể tính toán được, với sự cạnh tranh hoàn hảo và lợi nhuận không đổi theo quy mô,… Tính đến nay, GTAP đã có 10 cơ sở dữ liệu khác nhau qua từng năm. Cơ sở Dữ liệu GTAP bao gồm các ma trận thương mại, vận tải và bảo hộ song phương liên kết các cơ sở dữ liệu kinh tế của từng quốc gia/khu vực. Cơ sở dữ liệu khu vực được lấy từ các bảng đầu vào - đầu ra của từng quốc gia, từ các năm khác nhau. Ưu điểm của mô hình bao gồm: (i) là mô hình cân bằng chung, nó tính đến những thay đổi kinh tế trong tất cả các lĩnh vực; (ii) nó tương 6 đối dễ tiếp cận so với các mô hình CGE khác; (iii) nó đi kèm với một bộ phần mềm và cơ sở dữ liệu được đánh giá ngang hàng và được lập thành văn bản đầy đủ; và (iv) nó được sử dụng rộng rãi bởi các nhà nghiên cứu chính sách thương mại, những người có thể dễ dàng cố gắng tái tạo và xác minh kết quả của bất kỳ nghiên cứu GTAP nào.
Mặt khác, mô hình GTAP gặp phải những hạn chế giống như các mô hình CGE khác về chính sách thương mại (Plummer và cộng sự, 2010). Mô hình cân bằng cục bộ SMART. Mô hình là một hệ thống cơ sở dữ liệu vàphần mềm thương mại được phát triển bởi WITS - một chương trình phần mềm truy xuất thông tin về thương mại thế giới và thuế quan, được thu thập từ các tổ chức như Phòng Thống kê Liên hợp quốc (UNSD), Thương mại Hàng hóa (UN Comtrade), Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) Hệ thống Thông tin Phân tích Thương mại (TRAINS) và Cơ sở Dữ liệu Tích hợp của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (IDB). SMART cho phép người dùng đánh giá tác động của một sự thay đổi chính sách thương mại nhất định (được đo bằng thuế quan) đối với các biến số sau: tác động tạo ra thương mại, tác động chuyển hướng thương mại, tác động thương mại ròng (tổng hợp các tác động tạo ra thương mại và chuyển hướng thương mại), biến đổi doanh thu thuế quan và thay đổi thặng dư tiêu dùng Mô hình mô phỏng toàn cầu về chính sách thương mại cấp ngành GSIM cũng là một mô hình cân bằng từng phần được phát triển bởi được phát triển bởi Francoisvà Hall (2003).
Tuy nhiên, khác với mô hình SMART, mô hình này có cung xuất khẩu là dốc lên thay vì cung xuất khẩu hoàn toàn co giãn như SMART. Các chỉ số thương mại. Trong cuốn “Thống kê thương mại trong hoạch định chính sách” của Mikic và Gilbert (2009), có rất nhiều chỉ số thương mại được tổng hợp có mục đích nhằm phân tích thương mại quốc tế hoặc ngoại thương, ở cấp quốc gia, khu vực hoặc toàn cầu. Bằng cách sử dụng các chỉ số này, người ta có thể cung cấp thông tin chi tiết về loại câu hỏi khác nhau, trong đó có nhiều câu liên quan đến tiềm năng của các FTA.
Các chỉ số được đề cập cho thấy những thay đổi trong cơ cấu hàng hóa của thương mại và do đó hữu ích nhất cho việc chuẩn bị các vị trí đàm phán trong các cuộc đàm phán thương mại, tiêu biểu như: chỉ số đa dạng hóa xuất 7 khẩu (Export Diversification), lợi thế so sánh hiện hữu (Revealed Comparative Advantage), định hướng khu vực (Regional Orientation), chỉ số bổ sung (Complementarity), … 1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá tác động của FTA Các nghiên cứu tác động tiền kỳ (Ex-Ante) Các chỉ số thương mại để đánh giá tác động kinh tế tiềm năng của FTA được rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước sử dụng. Ahmed và cộng sự (2010) đã sử dụng chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA) theo phân loại hàng hóa mã HS để đánh giá tác động tiềm năng của FTA Pakistan - Sri Lanka. Với RCA > 1, các mặt hàng xuất khẩu của Pakistan chủ yếu tập trung ở các mặt hàng dệt, may, thiết bị điện, thiết bị viễn thông, nồi hơi và thiết bị cơ khí. RCA là một chỉ số truyền thống được nhiều nghiên cứu khác sử dụng để đánh giá tác động tiềm năng của FTA như nghiên cứu của Chandran và Sudarsan (2012), Zhang và Lee (2017), Jaswal và Narayanan (2017), Culas và Timsina (2019), Maderová (2020), Kết quả của chỉ số này ở các nghiên cứu đều cho thấy tiềm năng thương mại của các đối tác với nhau.
Felix và cộng sự (2012) đã kết hợp bốn chỉ số RCA, RO, TII và TC để đánh giá tác động của các FTAs đối với năng lực cạnh tranh của khu vực CARICOM. Theo kết quả nghiên cứu, CARICOM duy trì lợi thế so sánh trong các nhóm sản phẩm xuất khẩu được lựa chọn trong nghiên cứu; cường độ thương mại từ CARICOM đến Costa Rica được thể hiện là cao nhất trong nhóm HS 0303; tiềm năng thương mại vẫn ở mức cao trong suốt giai đoạn 2001- 2010, do đó cho thấy xuất khẩu của CARICOM trong các nhóm được chọn không chiếm được thị phần đáng kể nào ở Cộng hòa Dominica hay Costa Rica. Sikdar và Nag (2011) đã sử dụng khung mô hình CGE của GTAP để đánh giá tácđộng của FTA Ấn Độ-ASEAN đối với các biến số kinh tế vĩ mô, các biến số thương mại và vị trí phúc lợi của Ấn Độ và các nước trong khu vực ASEAN. Kết quả của nghiên cứu cho thấy tổng thương mại song phương của Ấn Độ với khu vực ASEAN tăng lên đáng kể; Ấn Độ giành được quyền tiếp cận thị trường lớn nhất ở Campuchia, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam,….
Cũng sử dụng mô hình GTAP, Muchtar (2017) đã đánh giá tác động của ASEAN+5 8 đến hiệu quả kinh tế của Indonesia. Kết quả của nghiên cứu cho thấy những tác động tích cực của các hiệp định đến tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu, điều khoản thương mại, cán cân thương mại, đầu tư, tiêu dùng và chi tiêu của chính phủ, tiền lương và phúc lợi xã hội. Shiferaw và Hagiwara (2017) sử dụng mô hình GTAP, cơ sở dữ liệu phiên bản 9 để đánh giá tác động của ba thỏa thuận thương mại khu vực, COMESA FTA, liên minh thuế quan và EPA đối với nền kinh tế của Ethiopia. Kết quả chỉ ra rằng, cán cân thương mại tổng hợp của Ethiopia được cải thiện nhiều hơn từ các liên minh thuế quan và EPA so với từ FTA, nhưng lại có sự thất thu lớn.
Hơn nữa, COMESA, liên minh thuế quan và EPA dẫn đến tổn thất phúc lợi ròng cho Ethiopia, trong khi COMESA và FTA cải thiện phúc lợi. Safuan (2017) áp dụng mô hình GTAP để đánh giá tác động của việc xóa bỏ thuế quan của ASEAN- Trung Quốc FTA đối với phúc lợi của các nước thành viên.