Chương 1 VĂN HÓA ĐỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI 1.1 Những vấn đề chung về văn hóa đọc 1.1 Khái niệm văn hóa đọc Văn hóa là một khái niệm phức hợp có nội hàm nhưng nó lại thể hiện hàng ngày, rất gần gũi với mọi người chúng ta như: Văn hóa đọc,văn hóa dân tộc, văn hóa lễ hội, văn hóa đô thị, văn hóa lối sống, văn hóa giáo dục… Thuật ngữ ‘‘văn hóa đọc” ngày càng nói nhiều hơn trên các phương tiện thông tin đại chúng, chuyên mục văn hoá đọc trên các báo, tạp chí, đài phát thanh truyền hình ở địa phương và trung ương. Văn hoá đọc là một trong những nhân tố cấu thành nên đời sống văn hoá của con người và xã hội. Để làm rõ quan niệm về văn hoá đọc, trước hết chúng ta cần tiếp cận khái niệm văn hoá. Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Từ văn hoá có rất nhiều nghĩa. Trong tiếng Việt, “Văn hoá” được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hoá), lối sống (nếp sống văn hoá); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hoá Đông Sơn)…; Theo nghĩa rộng, văn hoá bao gồm cả những giá trị vật chất và các giá trị tinh thần do con người tạo nên (20). Theo Hồ Chí Minh ‘‘Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc ở và các 14 phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa’’(9) Phân tích cách tiếp cận văn hoá phổ biến hiện nay có thể nêu ra một định nghĩa tổng quát nhất: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.(12) Văn hoá đọc cũng chính là một bộ phận văn hoá của con người được trao truyền qua rất nhiều thế hệ.
Từ khi có chữ viết ra đời, cùng với nó là hoạt động đọc của con người cũng xuất hiện. Khi công nghệ in ấn phát triển, hoạt động đọc của con người ngày càng trở nên phổ biến hơn trong xã hội. Sách báo cung cấp cho con người tri thức khoa học kỹ thuật, chính trị kinh tế, văn học. Trong sách báo lưu giữ các kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất và chiến đấu mà con người đã tích luỹ và đúc kết lại trong quá trình sống.
Thông qua quá trình đọc và tự đọc, các tri thức này được truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hoá đọc mang những giá trị văn hoá của thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau. Từ xa xưa, các bậc tiền bối đã khẳng định vai trò quan trọng của việc đọc trong đời sống xã hội và trong sự phát triển của mỗi cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Sách là thuốc bổ tinh thần, sách là thuốc chữa tội ngu” (14).Lênin cho rằng: “Không có sách thì không có tri thức.
Không có tri thức thì không có chủ nghĩa cộng sản”… Từ đó, có thể đúc kết lại: Văn hoá đọc là nền tảng, là cơ sở cho sự phát triển những ý tưởng sáng tạo, góp phần nâng cao dân trí, đồng thời cũng là phương tiện lưu giữ trí thức, kinh nghiệm cho các thế hệ. Vì thế, văn hoá đọc còn là một nét đẹp truyền thống của mỗi dân tộc. Ở Việt Nam, hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hoá đọc, đây cũng chính là đề tài được nhiều nhà khoa học quan tâm và đề cập đến. Thuật 15 ngữ văn hóa đọc đến thời điểm hiện tại chưa có trong mục từ điển, chưa được coi là một định nghĩa hay khái niệm hoàn chỉnh và thống nhất.
Trong thời đại bùng nổ thông tin, khoa học kỹ thuật phát triển, văn hóa đọc không chỉ giữ phương thức đọc truyền thống (sách in) mà chuyển sang phương thức hiện đại ( đọc trên các thiết bị điện tử, máy tính, Internet, điện thoại,…) đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của độc giả trong đó có giới trẻ (sinh viên). Điều này cho thấy văn hóa đọc cần khẳng định vị thế và tầm ảnh hưởng lớn đến xã hội. Theo thạc sỹ Bùi Văn Vượng, thuật ngữ văn hóa đọc là đọc sách có văn hóa, hay xây dựng một xã hội đọc sách. Tiến sỹ Lê Văn Viết lại quan niệm đọc ở một mức độ, trình độ nhất định nào đó thì mới được coi là văn hóa đọc.TS nhà ngôn ngữ học Phạm Văn Tình khẳng định: “Văn hóa đọc chính là thái độ, là cách ứng xử của chúng ta đối với tri thức sách vở.
Phải biết đọc sao cho hợp lý và bổ ích. Đọc sao cho hợp với quy luật tri thức”. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, phụ thuộc vào những khía cạnh mà họ quan tâm khi nói đến văn hoá đọc. Nhưng trong đó theo ông Nguyễn Hữu Viêm cho rằng: Văn hoá đọc là một khái niệm có hai nghĩa, một nghĩa rộng và một nghĩa hẹp.
Văn hoá đọc, theo nghĩa rộng, đó là nền văn hoá đọc của mỗi quốc gia thể hiện qua chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước, của cộng đồng và ý thức của mỗi thành viên trong xã hội về xây dựng phát triển cơ sở vật chất (thư viện, phòng đọc; xuất bản phát hành sách, tài liệu.) nhằm phát triển văn hóa đọc. Văn hoá đọc, theo nghĩa hẹp là đọc có văn hoá, đó là ứng xử đối với việc đọc: thể hiện qua thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc của mỗi người đọc. Như vậy, văn hóa đọc đã vượt lên khái niệm đọc đơn thuần, nó hướng đến giá trị nghệ thuật đích thực, hướng đến cách ứng xử, giá trị và chuẩn mực thẩm mỹ của công chúng. Để hiểu sâu hơn về văn hoá đọc, chúng ta sẽ đi sâu vào từng nghĩa rộng và hẹp của khái niệm: 16 Văn hoá đọc ở nghĩa rộng là ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước, ứng xử đọc của cộng đồng xã hội và ứng xử đọc của mỗi cá nhân trong xã hội.
Ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước là chính sách, đường lối và ứng xử hàng ngày nhằm phát triển nền văn hoá đọc. Các hoạt động này đều nhằm tạo ra hành lang pháp lý phát triển tài liệu đọc có giá trị và lành mạnh cho mọi người đọc khác nhau và sự thuận tiện của tài liệu đọc đến với người đọc (thông qua các loại cửa hàng sách và các loại hình thư viện, phòng đọc sách). Nghĩa là người đọc, không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt tuổi tác, không phân biệt nơi cư trú đều dễ dàng tiếp cận đến những tài liệu đọc giá trị họ mong muốn, để họ có cơ hội cải thiện chính cuộc sống của họ. Đó là chính sách, đường lối phát triển nền công nghiệp sách (từ người viết, người làm sách tới quá trình hình thành sách đến tay người đọc) có chất lượng cao, giá cả hợp lý, hợp với túi tiền của mọi người dân và phân phối rộng khắp trên toàn quốc, với các hình thức, biện pháp tuyên truyền, hướng dẫn đọc phong phú, đa dạng và hiện đại.
Ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của cộng đồng xã hội là sự phát triển của các hội nghề nghiệp liên quan tới đọc như: Hội tác gia, Hội nhà báo, Hội xuất bản, Hội thư viện,. Tất nhiên các hội này phải hoạt động với mục đích chính là phát triển nghề nghiệp. Ứng xử đọc của cộng đồng xã hội còn phải kể tới truyền thống văn hoá của xã hội hay nói chính xác hơn là truyền thống văn hoá tôn vinh người viết sách, người đọc sách và người truyền thụ kiến thức (kể cả giáo dục kỹ năng đọc và hướng dẫn đọc). Ở đây không thể không kể tới những hoạt động đa dạng và phong phú của các tổ chức văn hoá xã hội khác nhằm phát triển văn hoá đọc như: hoạt động của Hội phụ nữ, Hội thanh 17 niên,.
tổ chức thi đọc sách, thi tìm hiểu một vấn đề nào đó thông qua tìm hiểu sách báo. Ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân trong xã hội là thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc của mỗi người. Trước hết cần tạo ra và phát triển thói quen đọc suốt cuộc đời cho mỗi người. Xây dựng thói quen đọc phải được bắt đầu từ tuổi ấu thơ, ở nhiều nước người ta bắt đầu thực hiện từ tuổi trước khi đến trường, do các bậc cha mẹ thực hiện.
Còn trong suốt cuộc đời đi học và sau khi ra đời là quá trình học tập và rèn luyện các kỹ năng đọc. Trong suốt quá trình học tập, mỗi cá nhân phát hiện ra sở thích đọc của chính họ để phát huy sở trường và hạn chế những sở đoản. Thói quen và kỹ năng đọc mang tính chất đồng loạt, còn sở thích đọc lại phụ thuộc hoàn toàn vào từng cá nhân cụ thể. Ví dụ: có người thích đọc thơ, có người thích đọc tiểu thuyết, có người thích đọc sách nghiên cứu, có người thích đọc sách phổ biến, khoa học kỹ thuật, văn hoá nghệ thuật.
Yếu tố này tạo ra sự đa dạng, phong phú, giàu mầu sắc cho nền văn hoá đọc trong xã hội. Nếu xét văn hoá đọc của từng cá nhân phải đảm bảo có đủ cả ba yếu tố trên. Nếu một người có thói quen đọc, nhưng thiếu kỹ năng đọc, hiệu quả đọc không cao, thậm chí không có hiệu quả, chỉ mất thời gian vô ích. Nếu nắm vững kỹ năng đọc, nhưng không tạo được thói quen đọc, cũng chẳng thu lượm được kiến thức là bao, thiếu những kiến thức cần thiết cho cuộc sống của chính họ.
Nhưng đôi khi người ta nói văn hoá đọc của mỗi cá nhân đồng nghĩa là kỹ năng đọc của họ. Điều đó nói lên tầm quan trọng của kỹ năng đọc của mỗi cá nhân. Chính khái niệm này cũng là một khái niệm đang phát triển và có nội dung hết sức phong phú. 18 Kỹ năng đọc là sự thể hiện tổ hợp những thao tác tư duy được xác lập thành thói quen ứng xử đọc.