CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 1. NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số lần đầu tiên được tổ chức tại thủ đô Hà Nội vào ngày 3/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự đại hội và có buổi nói chuyện với các đại biểu. Người nói rất ngắn gọn, nhưng đã tập trung nêu bật vấn đề đó là phải xây dựng khối đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số. Người cho rằng: “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa.
Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa…” [16, tr. Cũng trong ngày 3/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết một bức thư gửi các đại biểu về dự Đại hội các dân tộc thiểu số lần thứ nhất. Trong thư, Người nhấn mạnh: “Xưa kia, nước ta còn chế độ nhà vua, thì triều đình ít chăm nom đến các dân tộc thiểu số. Trong thời kỳ Pháp thuộc, thì chúng xui dân tộc này chống dân tộc kia.
Chúng làm cho đồng bào ta chia rẽ. Chúng tìm mọi cách đè nén bóc lột các dân tộc ta. Ngày nay, nhờ sự đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc, nhờ sự hy sinh phấn đấu của tất cả đồng bào, mà chúng ta tranh được quyền tự do độc lập, và xây nên nước Dân chủ Cộng hòa. Từ đây về sau, các dân tộc đã đoàn kết càng phải đoàn kết thêm, đã phấn đấu càng phải phấn đấu nữa, để giữ gìn quyền độc lập cho vững vàng để xây dựng một nước Việt Nam mới.
Khi khó nhọc chúng ta cùng gắng sức, lúc thái bình chúng ta cùng hưởng chung…" [16, tr. 162] Luan van 10 Trên đây là một trong những minh chứng cho việc kiên trì, dày công xây dựng, vun đắp khối đại đoàn kết dân tộc của Người, trên cơ sở các dân tộc phải được bình đẳng như nhau, sống có tình, có nghĩa với nhau, thương yêu, đùm bọc nhau và phải giúp đỡ nhau như anh em một nhà. Tư tưởng, quan điểm về công tác dân tộc, chính sách dân tộc và đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện giá trị nhân văn cao cả, là cội nguồn sức mạnh cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại.
Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta. Trong những tư tưởng đó, tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc là nét nổi bật xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động và hệ thống tư tưởng của Người, nó đã trở thành một di sản quý báu cho dân tộc Việt Nam trong đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng này của Người được hình thành dựa trên nhiều cơ sở về mặt lý luận và thực tiễn rất phong phú, cụ thể là: 1. Truyền thống yêu nước nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam Đất nước ta, một dải đất hẹp nằm trọn trong vành đai nhiệt đới gió mùa, quay mặt ra biển đông, lưng tựa vào Trường Sơn hùng vĩ.
Do điều kiện địa lý, Luan van 11 tự nhiên và vị trí quan trọng của mảnh đất này, những cư dân người Việt từ thuở xa xưa vừa được thừa hưởng sự ưu đãi của đất trời, vừa phải đối mặt với những thử thách khắc nghiệt của thiên tai, địch họa. Lịch sử dựng nước và giữ nước diễn ra trên mảnh đất này là sự nối tiếp hàng ngàn năm những cuộc đấu tranh không mệt mỏi chống hạn hán, bão lụt, chống chiến tranh xâm lược của các thế lực nước ngoài. Từ trong cuộc đấu tranh trường kỳ đó đã sớm nảy sinh và định hình ý thức cộng đồng, ý thức tập thể và cao hơn là ý thức dân tộc. Ý thức này ngấm vào máu thịt của con người Việt Nam và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, để tạo thành truyền thống đoàn kết nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước.
Truyền thống này đã được minh chứng qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đặc biệt trong truyền thuyết “Lạc Long Quân và Âu Cơ” sinh ra bọc trăm trứng, nở ra trăm con, đã nói lên nguồn gốc và đặc điểm hình thành dân tộc Việt Nam. Chúng ta tự hào rằng chúng ta là “Con Rồng cháu Tiên”. Truyền thống ấy đã thấm sâu vào tình cảm, tâm hồn và tư tưởng của mỗi con người Việt Nam.
Yêu nước nhân ái, đoàn kết cộng đồng với các thế hệ người Việt Nam đã trở thành một tình cảm tự nhiên: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng” hay là “Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” đã trở thành triết lý nhân sinh: “Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” đã trở thành phép ứng xử và tư duy chính trị: Luan van 12 “Nhà - Làng - Nước thống nhất” “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” Những điều đó đã phần nào ghi đậm dấu ấn cấu trúc xã hội truyền thống: gia đình gắn kết cộng đồng làng xã (Nhà - Làng - Nước), gắn với cộng đồng cả nước, cho nên dân ta có câu: “Nước mất thì nhà tan” Những giá trị nhân bản sâu sắc và quý giá đó không chỉ được phản ánh trong kho tàng văn học dân gian mà còn được thể hiện qua tư tưởng của những người anh hùng giải phóng dân tộc qua các thời kỳ lịch sử như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Nam Đế, Mai Thúc Loan, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung,… Nó đã nâng lên thành phép đánh giặc, giữ nước “tập hợp bốn phương manh lệ”, “trên dưới một lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”, “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”,… Truyền thống đó của dân tộc lại được tiếp nối trong tư tưởng tập hợp lực lượng toàn dân của các nhà yêu nước trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược và các thế lực phong kiến tay sai vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX như: Đinh Công Tráng, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Thiện Thuật, Phan Đình Phùng, Hoàng Hóa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,…Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống đấu tranh cách mạng Nghệ Tĩnh. Qua quá trình tìm hiểu lịch sử dân tộc và quá trình hoạt động tìm đường cứu nước, lãnh đạo cách mạng nước nhà thì Người đã sớm tiếp thu truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết quý báu đó. Người khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta.
Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy (yêu nước) lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn (đoàn kết), nó lướt qua mọi sự hiểm nguy, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [18, tr. Rõ ràng truyền thống yêu nước - Luan van 13 nhân nghĩa - đoàn kết là cơ sở quan trọng hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử Thời đại của Hồ Chí Minh sinh ra và hoạt động là thời đại cách mạng vô sản, là thời đại của chủ nghĩa cộng sản từ học thuyết đã trở thành hiện thực sinh động. Đặt trong bối cảnh đó, chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết khoa học, tiên tiến nhất thời đại, có sức hấp dẫn, chinh phục hàng triệu triệu khối óc, trái tim nhân loại.
Sức hấp dẫn của hoc thuyết đó chính là ở chổ các nhà sáng lập đã đặt giai cấp vô sản - giai cấp làm thuê, bị bóc lột trong xã hội tư bản - trở thành chủ thể sáng tạo của lịch sử, sáng tạo ra một thế giới mới tự do, bình đẳng, bác ái thực sự, không có người bóc lột người. Trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ tư bản, giai cấp vô sản “chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới” [13, tr. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản Mác và Ăngghen đã đưa ra một khẩu hiệu chiến đấu vang dội: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại”.
Chủ nghĩa Mác - Lênin khi nói tới sứ mệnh lịch sử giải phóng loài người của giai cấp vô sản đã chỉ rõ, ở trong mỗi nước, giai cấp vô sản là giai cấp cách mạng nhất, ngoài ra còn có những tầng lớp bị giai cấp tư sản bóc lột cũng làm cách mạng như tiểu nông, tiểu tư sản thành thị. Giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng phải đoàn kết với những người bị áp bức, hình thành “nhân dân” trong nước. Để đảm bảo thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử, giai cấp vô sản cần phải có một bộ tham mưu ở mỗi nước và trên phạm vi thế giới để vạch đường chỉ lối. Ăngghen đã sáng lập Đồng minh những người cộng sản và soạn thảo bản tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản nổi tiếng.