Chương 1: Khái luận chung về đạo đức và tư tưởng đạo đức Hỗ Chí Minh. Chương 2: Thực trạng giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho học sinh THCS Trưng Vương Đà Nẵng Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho học sinh trường THCS Trưng Vương hiện nay. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng đạo đức của Người nói riêng đã được rất nhiều tác giả quan tâm đến. Tác phẩm “Van hod, dao dite trong tư tưởng Hỗ Chí Minh" (2008) của Bùi Đình Phong, Nhà xuất bản Công an nhân dân đã làm rõ về giá trị của những tư đạo đức Hỗ Chí Minh đối với dân tộc và nhân loại.
Đồng thời, tác phẩm cũng đã đi phân tích để thấy rõ những đặc trưng bản chất trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đó là nguyên tắc “ở đời và làm người”. Ngoài ra, tác giả cũng đã đi phân tích để thấy rõ tính toàn diện, tính thông nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự thống nhất giữa tư tưởng giữa tư tưởng và hành động, chính trị và tư tưởng đạo đức, giữa đức và tài. Tác phim “Mai mai học tập và làm theo tắm gương đạo đức Hỗ Chí Minh” (2008) của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã khai thác nội dung tư tướng đạo đức Hỗ Chí Minh thông qua ba nội dung chính.
Thứ nhất là những bài viế và trích đoạn của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Thứ hai là những nội dung tư tưởng đạo đức Hỗ Chí Minh thông qua nhiễu bài viết của nhiều tác giả khác nhau, ở những khía cạnh khác nhau của đạo đức cách mạng. Và cuối cùng là những câu chuyện kể vẻ tắm gương đạo đức của Hồ Chí Minh được sưu tằm từ lời kế của nhiễu người và từ nhiều cuốn sách khác nhau. Tae phim “Day manh hoc tdp và làm theo tắm gương đạo đức Hồ Chí Mink” (2007) của Ban tư tưởng văn hoá trung ương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã tập trung vào việc nghiên cứu đạo đức là gì, vai trò, những chức năng nói chung của đạo đức và những ảnh hưởng của nó trong đời sống xã i.
Tác giả cũng đã đi phân tích thực trạng và nguyên nhân suy thoái về đạo. đức, lỗi sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Bài báo “Tính cách mạng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh" của tác giả Vũ Văn Thuấn (2005), Tạp chí triết học, số 10 đã đi phân tích đẻ thấy rõ những điểm vĩ đại của đạo đức cách mạng, những điểm đối lập giữa đạo đức. cách mạng với nền đạo đức cũ- đạo đức duy tâm và chỉ được nêu lên nhưng không được thực hiện.
Qua đó, tác giả khẳng định giá trị to lớn của đạo đức cách mạng trong sự nghiệp đổi mới của đất nước ta. Bai bao “Tir tong HO Chi Minh È đạo đức" của tác giả Lê Trọng An (2005) đăng trên Tạp chí triết học, số 1 đã khái quát những nội dung cơ bản tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và khăng định sự cần thiết cúa việc học tập tư tưởng đạo đức của Người. Bài báo “Đạo đức mới - đạo đức cách mạng từ các cách tiếp cận khác nhau” của tác giả Trịnh Duy Huy (2006), Tạp chí triết học, số 1đã phân tích và cho thấy đạo đức Tư sản là sự đối lập giữa những giá trị đạo đức đã được nêu lên và việc thực hiện nó, từ đó khẳng định sự tiến bộ của đạo đức công sản. Bài viết cũng đã phân tích đạo đức mới dưới góc độ nhận thức luận, giá trị nhân cách và những chức năng cơ bản của nó.
Bên cạnh những tác phẩm nghiên cứu về tư tưởng đạo đức Hỗ Chí Minh, trong những năm qua cũng có nhiều tác giả và nhiễu bài viết nghiên cứu về tình hình đạo đức thanh niên và công tác giáo dục đạo đức đối cho thanh niên 'Việt Nam hiện nay. Tác phẩm “Tự tưởng đạo đức cách mạng Hỗ Chí Minh với việc giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay”, Trần Thì Kim Dung (2008) đã dành một phần để khái quát những khái niệm chung về thanh niên. Tác phẩm cũng đã trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên ở những khía cạnh khác nhau. Thứ nhất là, tác giả nhìn nhận và đánh giá về vai trò, vị trí của thanh niên trong tiến trình lịch sử của dân tộc qua các thời kỳ cách mạng.
Thứ hai là, tác giả đã trình bày đường lối, nội dung giáo dục bồi dưỡng thanh niên thành lớp người kể tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Thứ ba là, tác giã đã nêu những nhiệm vụ công tác thanh niên của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh - với chức năng là cánh tay phải và đội hậu bị của Đảng trong công tác giáo dục và rèn luyện thanh niên. Qua tác phẩm này, tác giả cũng đã làm rõ sự tin tưởng của Hồ Chí Minh đối với thế hệ thanh niên, sự nhìn nhận và đánh giá một cách toàn diện của Người đối với vấn đề thanh niên, sự quan tâm giáo dục toàn diện cho thanh niên, đặc. biệt là giáo dục đạo đức.
Ngoài công trinh nghiên cứu tiêu biểu nêu trên, còn có rất nhiều công. trình nghiên cứu khác. Những công trình nghiên cứu đó đã đề cập một cách toàn diện hay những khía cạnh khác nhau về tư tướng đạo đức Hồ Chí Minh cũng như những khía cạnh khác nhau. Nhưng nhìn chung, chưa có tác phẩm nào tập trung nghiên cứu riêng về vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh “Trung học cơ sở theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Vì vậy, qua luận văn này, tác giá muốn đi sâu tìm hiểu và phân tích để làm rõ một cách hệ thống những luận điểm cơ bản trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và công tác giáo dục đạo đức cho học sinh theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đặc biệt là ở lứa tuôi học sinh THCS. CHUONG 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ DAO ĐỨC VÀ TƯ TƯỚNG ĐẠO ĐỨC HÒ CHÍ MINH 1. MOT SO VAN DE VE DAO DUC: 1. Khái niệm đạo đức a.
Các quan niệm khác nhau về đạo đức Theo quan niệm phương Đông, trong các học thuyết của Nho giáo. của Đạo giáo hay Phật giáo đều lấy đạo đức làm cơ sở ể tự rèn luyện mình trong việc đối nhân xử thế và, đều khuyên con người làm điều thiện, tránh điều ác. Các học thuyết dy dé xuất các chuẩn mực, các quy tắc, những rằng buộc trong các hoạt động sống của con người. Thật vậy, khái niệm đạo đức ở phương Đông có nghĩa là đạo làm người, bao gồm rất nhiều chuẩn mực về các mỗi quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, làng xóm, bạn bè, tu thân, dưỡng tâm rèn luyện khí tiết.
theo những định hướng giá trị nhất định. Những tư tưởng đạo đức đã xuất hiện cách đây hơn 2.600 năm trong triết học Trung Quốc, Ân Độ và Hi Lạp cỗ đại. Khái niệm đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos (moris) ~ lề thói (moralis nghĩa là có én quan với lễ thói, đạo nghĩa). Còn "luân được xem như đồng nghĩa vị lạo đức” có gốc từ tiếng Hi Lạp là erhicos - lẻ thói, tập tục.
Khi nói đến đạo đức tức là nói đền những lễ thói và tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong giao tiếp với nhau hàng ngày. Thời kỳ này, nội dung đạo đức học nổi tiếng với ba vấn đề: Một là, những phẩm hạnh như dũng cảm, công bằng, trung thành, chân thưc.là gì? Hai là những luật đạo đức là bắt buộc hay tương đối. Ba là mục đích của cuộc sống và hạnh phúc của con người. G phương Đông, từ rất sớm, các học thuyết về đạo đức của người Trung.
Quốc cổ đại đã xuất hiện, trong đó rõ nét nhất là những quan niệm về đạo và đức. Đạo đức là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cô đại Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, là đường sống của con người trong xã hội. Đức dùng để nói đến đạo nghĩa, là nguyên tắc, luân lí, nhìn chung đức tính là biểu hiện của đạo. Như vậy, có thể nói đạo đức theo quan niệm của người Trung Quốc cô đại chính là những nguyên tắc, những yêu cầu do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo.
phương Tây, từ lâu vấn đề đạo đức đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà tư tưởng. Cho đến nay, người ta vẫn coi Xôcrat (469-399 TCN) là người đầu tiên đặt nên móng cho khoa học Đạo đức học. Còn Arixtot (384-322 TCN) đã viết bộ sách 10 cuốn về Đạo đức học, trong đó ông đặc biệt đề cao đến phẩm hạnh con người. Nội dung của phẩm hạnh chính là chỗ biết biết làm việc thiện, định hướng đúng.
Ông nói: “Chúng ta bàn về đạo đức không phải để biết đức hạnh là gì mà là để trở thành con người có đức hạnh”. Trong lịch sử Đạo đức học, Êpiquya (341 -271 TCN) là người đầu tiên đưa phạm trù lẽ sóng vào Đạo đức học và là một trong những người có công luận giải về sự tự do của con người. Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau: lo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực a ä hội nhằm điều chính và đánh ạ ích ứng xử của con nại i trong quan hệ với nhau và quan hệ vi h bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dự luận xã hội" [63,25] “Trong định nghĩa trên có mấy điểm cần c† như sau: Một là đạo đức được xem với tư cách là hình thái ý thức xã hội phản ánh sự tồn tại xã hội, ngoài ra đạo đức phản ánh hiện thực đời sống xã hội. Cũng như các quan điểm khác của t ết học, chính trị, nghệ thuật và tôn giáo, đạo đức đều mang tính chất của ến trúc thượng tầng.
Trên hết, đạo đức con 10 người hình thành từ chế độ kinh tế - xã hội. Các quan điểm này luôn thay đôi theo điều kiện kinh tế - xã hội qua từng giai đoạn. Hai là đạo đức được hiểu như là một phương thức điều chỉnh hành vi con người. Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi khác nhau như pháp luật, tôn giáo, phong tục, tập quán.
Đồi với dao dit sự đánh giá đó được hình thành theo khuôn phép, chuẩn mức và quy tắc đạo đức và biểu hiện nên những khái niệm cúa thiện - ác, vinh ~ nhục, chính nghĩa ~ phi nghĩa.