CHƯƠNG 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI 1. KHÁI NIỆM CÁ NHÂN, XÃ HỘI, CỘNG ĐỒNG 1. Khái niệm cá nhân và nhân cách * Khái niệm cá nhân Triết học Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: con người là sự thống nhất biện chứng giữa mặt sinh vật và mặt xã hội. Tuy nhiên, mặt sinh vật chỉ là tiền đề vật chất tự nhiên của con người,mặt xã hội mới là mặt giữ vai trò quyết định bản chất của con người.Mác viết: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [36, tr.
Bản chất xã hội của con người không thể hiện một cách chung chung mà biểu hiện cụ thể trong từng cá nhân. Nói một cách khác con người tồn tại thông qua mỗi cá nhân. Cá nhân là khái niệm chỉ một con người cụ thể có nhân cách. Cá nhân là một chỉnh thể đơn nhất, vừa mang tính cá biệt vừa mang tính phổ biến, là chủ thể của lao động, của mọi quan hệ xã hội và của nhận thức nhằm thực hiện chức năng cá nhân và chức năng xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội.
Khái niệm cá nhân chỉ là điều kiện đầu tiên đánh dấu lĩnh vực đối tượng của việc nghiên cứu con người, nó chứa đựng khả năng cụ thể hóa hơn nữa bằng cách chỉ ra đặc điểm về chất của con người trong các khái niệm nhân cách và cá tính. Xét về mặt xã hội, cá nhân là một thực thể xã hội, cá nhân là cá thể người được hình thành và phát triển trong lịch sử, là chủ thể của lao động của mọi quan hệ xã hội và là chủ thể của nhận thức. Cá nhân là một con người hoàn chỉnh trong sự thống nhất của những khả năng riêng có của người đó với chức năng xã hội mà người đó thực hiện. Trong mối quan hệ Luan van 9 với xã hội, cánhân thể hiện là một chỉnh thể đơn nhất, độc đáo có vai trò chủ thể tronglịch sử.
Như vậy, ngoài những đặc điểm chung của con người, cá nhân rất khác nhau. Các thời đại lịch sử khác nhau thì có những kiểu cá nhân khác nhau. Xét cho cùng, sự khác nhau đó từ đâu? C.Mác chỉ ra rằng sự khác nhau ấy trước hết là do phương thức sinh sống của họ quy định. Mác, phương thức sản xuất “là một phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân”, “một hình thức nhất định của hoạt động sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ”.
Do đó: “Hoạt động sống của họ như thế nào thì họ là như thế ấy. Do đó họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ sản xuất ra cũng như với cách họ sản xuất. Do đó, những cá nhân là như thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ” [36,tr. Với tư cách là một thực thể sinh học, mỗi cá nhân là cá thể người mang đặc điểm chung của giống loài “người”, nhưng lại khác nhau về cấu tạo cơ thể riêng của mỗi người.
Sự khác nhau về phương diện sinh học ấy chủ yếu bị chi phối bởi bộ “gien” riêng ở mỗi người. Mỗi cá nhân có một thể chất riêng, hình dáng riêng, đặc điểm riêng về kiểu thần kinh, có sự nhạy cảm riêng đối với những yếu tố tác động của môi trường sống. Sự khác nhau giữa các cá nhân còn do điều kiện kinh tế của gia đình, môi trường giáo dục, quan hệ giao tiếp và nhất là khả năng tham gia các hoạt động xã hội của mỗi cá nhân. Mỗi cá nhân, tùy theo vị trí, chức năng, vai trò và năng lực sáng tạo cụ thể của họ mà có thể tham gia vào quá trình sáng tạo ra lịch sử của cộng đồng nhân dân.
Theo ý nghĩa đó, mỗi cá nhân ít nhiều đều in dấu ấn của mình vào quá trình sáng tạo ra lịch sử, dù mức độ và phạm vi có thể khác nhau. Với tư cách là một thực thể có tâm lý, ý thức, mỗi cá nhân có một bản sắc độc đáo riêng. Bản sắc độc đáo ấy thể hiện qua nhân cách của cá nhân. Luan van 10 * Khái niệm nhân cách Từ xưa đến nay khi xem xét con người với tư cách là một thành viên của một xã hội nhất định, là chủ thể của các mối quan hệ xã hội, của hoạt động có ý thức và giao tiếp thì chúng ta nói đến nhân cách của họ.
Chúng ta chỉ có thể nói đến con người như là một nhân cách, bắt đầu từ một thời kì nào đó trong quá trình phát triển của nó. Không phải mọi cá thể người, với cá tính của mình đều là nhân cách cả. Nhân cách của mỗi người mỗi khác và không ai giống ai, chính vì thế nó đã tạo nên một xã hội mà trong đó ta không thể nào tìm được người giống ta hoàn toàn. Do nhân cách là vấn đề rất phức tạp nên đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau và ý kiến của các nhà nghiên cứu về vấn đề này rất phong phú, đa dạng.
Nhìn chung quan điểm khác nhau về nhân cách xoay quanh bảy cách tiếp cận như sau: Thứ nhất: Quan điểm sinh vật hoá bản chất nhân cách. Nhân cách được coi là bản năng tình dục (S. Phrơt) là đặc điểm hình thể (Krestchmer), siêu đẳng, bù trừ (Atle), vô thức tập thể (K. Jung) là các kiểu hoạt động thần kinh cấp cao (những người quá tôn sùng học thuyết Paplôp).
Thực chất của các quan điểm trên dù hình thức biểu hiện khác nhau, nhưng đều có điểm chung là sinh vật hoá bản chất nhân cách nên đều là quan điểm siêu hình [77]. Thứ hai: Quan điểm coi bản chất nhân cách là nhân tính tự nhiên của con người đã được trường phái nhân văn nhấn mạnh. Đại diện của trường phái này là C. Những người ở trường phái này đều quan tâm đến giá trị tiềm năng bẩm sinh của con người, đến những đặc tính riêng của mỗi người, kinh nghiệm của con người.
Matxlâu cho rằng tính xã hội nằm trong bản năng con người. Những nhu cầu tiếp xúc, tình yêu, lòng kính trọng đều có tính chất bản năng, đặc trưng cho giống người. Những quan điểm này đều đề cao tính chất tự nhiên của con người, phủ nhận bảnchất xã hội của nhân cách. Do đó cũng cũng rơi vào quan điểm duy Luan van 11 tâm siêu hình [77].
Thứ ba: Nhân cách được hiểu là toàn bộ mối quan hệ xã hội của cá nhân (Lucien Seve, Zeigarnit, Ogordnikov). Họ lấy các mối quan hệ xã hội của cá nhân như trong quan hệ gia đình, nhà trường, cơ quan công tác, nghề nghiệp, bạn bè… làm chuẩn để đánh giá nhân cách. Về thực chất, quan điểm này đã xã hội hoá nhân cách một cách đơn giản, không chú ý đến mặt sinh vật của con người [77]. Thứ tư: Nhân cách được hiểu đồng nghĩa với khái niệm con người.
Platônôp cho rằng nhân cách là con người có ý thức, có lý trí và ngôn ngữ, là con người lao động. Loại quan điểm này nói về cái chung, cái đặc trưng nhất của con người mà không chú ý đến cái đặc thù, cái riêng độc đáo của mỗi nhân cách [77]. Thứ năm: Nhân cách được hiểu như cá nhân của con người với tư cách là chủ thể của mối quan hệ và hoạt động có ý thức (A. Hiện nay quan điểm này được đa số các nhà tâm lý học xã hội chấp nhận, coi nhân cách là cá nhân là cá thể so với tập thể và xã hội [77].
Thứ sáu: Nhân cách được hiểu như là tập hợp các thuộc tính ổn định nào đó của mỗi cá nhân, các thuộc tính sinh vật hoặc thuộc tính xã hội. Buêva cho rằng nhân cách là con người với toàn bộ những phẩm chất xã hội của nó. Nhân cách là toàn bộ những đặc tính và những quy luật cá nhân (H. Phorvec), là tổng số những những đặc điểm cá nhân con người mà không người nào giống người nào (E.
Nhân cách là tâm thế (Uzơnatze) là thái độ (V. Miaxisev), là phương thức tồn tại của con người trong xã hội, trong điều kiện lịch sử cụ thể (L. Những quan điểm này chỉ chú ý đến cái đơn nhất trong nhân cách, chưa thể hiện tính toàn diện trong định nghĩa về nhân cách [77]. Thứ bảy: Nhân cách được hiểu như cấu trúc hệ thống tâm lý cá nhân.
Luan van 12 Trong hàng chục năm lại đây, nhiều nhà tâm lý học đều có xu hướng hiểu nhân cách là cấu trúc, hệ thống tâm lý (A. Nhân cách là cấu tạo tâm lý mới được hình thành trong mối quan hệ sống của cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo của con người đó (A. Với quan niệm bản chất nhân cách là một hệ thống tổ chức, K. Ôbuchôpxki đã định nghĩa như sau: “Nhân cách là sự tổ chức những thuộc tính tâm lý của con người có tính chất, điều kiện lịch sử xã hội, ý nghĩa của nó cho phép giải thích và dự đoán hành động cơ bản của con người” [77].
Từ bảy quan niệm trên, chúng ta thấy rằng cho đến nay vẫn chưa có một trường phái nào giải quyết một cách thoả đáng, một cách toàn diện về vấn đề bản chất nhân cách. Vấn đề nhân cách vẫn luôn luôn là vấn đề nóng bỏng và hết sức quan trọng trong các khoa học về con người nói chung và tâm lý học nói riêng. Theo tác giả Phạm Minh Hạc, “Nhân cách của con người là một hệ thống các thái độ của mỗi người thể hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thước đo giá trị của người ấy với thang giá trị và thước đo giá trị của cộng đồng xã hội; độ phù hợp càng cao thì nhân cách càng lớn” [24,tr. Cũng theo cách hiểu này, tác giả Nguyễn Quan Uẩn trong cuốn Tâm lý học đại cương nêu lên định nghĩa nhân cách như sau: “Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người.
Nhân cách là sự tổng hoà không phải các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ là những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý - xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân. Đây là định nghĩa về nhân cách được chấp nhận rộng rãi ở Việt Nam” [60. Nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, là nội dung và tính chất bên trong của mỗi cá nhân.