CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẬN DỤNG THẺ CÂN BẰNG ĐIỂM TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ TẠI DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ THẺ CÂN BẰNG ĐIỂM 1. Nguồn gốc và sự phát triển của thẻ cân bằng điểm Những năm đầu thập niên 1990, nhiều nhà khoa học nghiên cứu về kế toán quản trị đã bổ sung thêm cho kế toán quản trị một số công cụ nhằm góp phần hoàn thành tốt hơn chức năng kiểm soát, đo lường và đánh giá thành quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Thẻ cân bằng điểm (Balanced scorecard – BSC) được xây dựng bởi Robert Kaplan – một giáo sư chuyên ngành kế toán thuộc đại học Harvard và David Norton – một chuyên gia tư vấn thuộc vùng Boston cũng xuất phát từ lý do trên.
Trước thập kỷ 90, hệ thống quản trị của các doanh nghiệp vẫn chủ yếu dựa trên các chỉ số tài chính và ngân sách để đo lường mức độ thành công. Một hệ thống như vậy khiến các doanh nghiệp có xu hướng tập trung ngắn hạn vào các chỉ số tài chính chỉ là kết quả cuối cùng phản ánh quá khứ. Nếu chỉ dựa trên các chỉ số tài chính, các nhà quản trị gặp khó khăn trong việc kết nối mục tiêu của các bộ phận, cá nhân với mục tiêu doanh nghiệp và chiến lược kinh doanh, khó cân bằng giữa ưu tiên ngắn hạn và dài hạn, xác định ưu tiên đầu tư nguồn lực cho các chức năng của doanh nghiệp. Từ một dự án nghiên cứu các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của rất nhiều doanh nghiệp có tài sản vô hình đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo giá trị, Robert Kplan (giáo sư của Harvard Business School) và David Norton (Giám đốc Học viện Norlan Norton) tin rằng nếu các doanh nghiệp muốn cải thiện hiệu quả quản lý các tài sản vô hình như (thương hiệu, sự trung thành của khách hàng, nguồn nhân lực, văn hóa, năng lực tổ chức) họ phải tích hợp việc đo lường các tài sản vô hình vào hệ thống quản trị của mình.
Thẻ cân bằng Luan van 9 điểm bắt nguồn từ 3 yếu tố cơ bản: Hệ thống mục tiêu của GE, nghiên cứu của Herb Simon và Peter Druker, phong trào quản lý của Nhật Bản (Kaplan và Norton, 2010). Vào thập kỷ 50, General Electronics đưa ra hệ thống quản lý dựa trên cả mục tiêu tài chính và phi tài chính. Hệ thống mục tiêu của GE bao gồm: Tỷ suất lợi nhuận, thị phần, năng suất lao động, sự vượt trội của sản phẩm, trách nhiệm xã hội, phát triển nhân lực, thái độ của nhân viên, sự cân bằng giữa mục tiêu ngắn hạn và dài hạn. Mặc dù không thực thi đến nơi đến chốn, Kaplan và Norton đã xem hệ thống này như gốc thứ nhất của công cụ thẻ cân bằng điểm sau này.
Các công trình nghiên cứu của Herb Simon và Peter Druker khuyến nghị rằng hệ thống hoạch định và kiểm soát trong quản lý cần tập trung vào các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính. Tuy nhiên, đến trước năm 1992, phần lớn các doanh nghiệp vẫn chỉ sử dụng hệ thống quản trị dựa trên các chỉ tiêu tài chính và ngân sách trong kiểm soát và đo lường hiệu quả hoạt động. Kết quả nghiên cứu những hạn chế trong hệ thống quản lý và kiểm soát của Mỹ (đơn thuần tập trung vào các chỉ số tài chính ngắn hạn) và sự thành công của các doanh nghiệp Nhật Bản trong việc đầu tư vào nâng cao kiến thức, kỹ năng (tài sản vô hình) để nâng cao chất lượng sản phẩm, sự hài lòng của khách hàng và kết quả tài chính, Kaplan và Norton đã xây dựng nên công cụ “Thẻ cân bằng điểm” ngày nay. Đặc biệt hơn, mô hình này được xem như là công cụ hoạch định chiến lược và quản lý Luan van 10 hiệu quả trong các chương trình cải cách hành chính của nhiều cơ quan chính phủ giúp giải quyết và hạn chế đáng kể tình trạng quan liêu, tham nhũng và cải thiện hiệu quả quy trình làm việc cho khu vực công.
Cùng với các phương pháp quản lý khác như quản lý theo mục tiêu (MBO), xác định chi phí dựa trên hoạt động (ABC), quản lý chất lượng toàn diện (TQM), Thẻ cân bằng điểm giúp doanh nghiệp đo lường hiệu quả công việc qua việc kết hợp các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, giúp các nhà quản lý và các quan chức cao cấp có một cái nhìn cân bằng hơn về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp và có thể đánh giá một cách toàn diện mức độ hoàn thành và hiệu quả của các chiến lược kinh doanh. Tận dụng lợi thế của sự đơn giản và hiệu quả cụ thể của công cụ này, các tổ chức phi lợi nhuận, chính phủ, các ngành công nghiệp và các tổ chức kinh doanh trên toàn thế giới đã áp dụng rộng rãi thẻ điểm cân bằng trong hệ thống quản lý của mình. Ước tính có 60% doanh nghiệp trong danh sách Fortune 1000 áp dụng Thẻ cân bằng điểm (Kaplan, 2004). Thẻ cân bằng điểm được đánh giá là một trong 75 ý tưởng có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20 (Niven, 2009).
Trong kết quả khảo sát toàn cầu về các công cụ quản lý năm 2011 do hãng tư vấn Bain công bố, Thẻ cân bằng điểm đã lọt vào tốp 10 công cụ quản lý được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới (vị trí thứ 6). Khái niệm thẻ cân bằng điểm và các khái niệm liên quan a. Khái niệm thẻ cân bằng điểm “Thẻ cân bằng điểm là phương pháp lập kế hoạch và đo lường hiệu quả công việc nhằm chuyển đổi tầm nhìn và chiến lược chung của tổ chức, doanh nghiệp thành những mục tiêu cụ thể, những phép đo và chỉ tiêu rõ ràng”.9] Bốn khía cạnh của thẻ cân bằng điểm giúp một doanh nghiệp cân bằng giữa: Luan van 11 (1) Cân bằng giữa mục tiêu ngắn hạn và dài hạn. (2) Cân bằng giữa đánh giá bên ngoài liên quan đến cổ đông, khách hàng và những đánh giá nội bộ liên quan đến quy trình xử lý, đổi mới, đào tạo và phát triển.
(3) Cân bằng giữa kết quả mong muốn và các nhân tố thúc đẩy các kết quả này. (4) Cân bằng giữa những đánh giá khách quan và chủ quan. Mô hình chuyển đổi tầm nhìn và chiến lược: 4 khía cạnh [12,tr. Các khái niệm liên quan Mục tiêu Mục tiêu được cụ thể hóa từ chiến lược của tổ chức, các kết quả được tạo ra từ việc đo lường các mục tiêu cho biết tổ chức có đang làm tốt công việc hay không.[2] Chiến lược Johnson và Scholes định nghĩa: “Chiến lược là định hướng và phạm vi dài Luan van 12 hạn của một tổ chức nhằm giành lợi thế cạnh tranh thông qua việc định dạng các nguồn lực trong môi trường thay đổi để đáp ứng nhu cầu thị trường, thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan”.[6] Bản đồ chiến lược Bản đồ chiến lược là công cụ kết nối giữa chiến lược và Thẻ cân bằng điểm, kết nối giữa văn bản chiến lược và kế hoạch triển khai hoạt động thực tế.
Bản đồ chiến lược trình bày bằng sơ đồ về điều phải làm trong các khía cạnh để thực thi thành công chiến lược [10]. Đó là các mục tiêu, các tuyên bố ngắn hạn đóng vai trò như những công cụ truyền bá mạnh mẽ, vạch ra các mục tiêu quan trọng cho sự thành công và liên kết trong chuỗi quản lý hiệu suất của một tổ chức. Bản đồ chiến lược phối hợp hoạt động với các thước đo trong thẻ cân bằng điểm sẽ làm sáng tỏ, giải quyết và hạn chế được các vấn đề khó khăn trong công tác quản lý. Bản đồ chiến lược hoạt động như hệ thống cảnh báo sớm về chiến lược của tổ chức, báo hiệu khi có sự thay đổi bất cứ yếu tố nào của kế hoạch đã được thiết kế để giúp phát triển tổ chức tốt hơn.
Bốn khía cạnh thường được sử dụng trong đánh giá thành quả của các tổ chức là: tài chính, khách hàng, quy trình hoạt động nội bộ, học hỏi và phát triển. Tuy nhiên, bốn khía cạnh này “nên được coi như bản mẫu chứ không phải là sự bắt buộc” [12]. Nhiều tổ chức phát triển thêm những khía cạnh khác như sự đổi mới, nghiên cứu và phát triển, môi trường, nhà cung cấp… Thước đo Các thước đo được diễn giải trực tiếp từ các mục tiêu trong Bản đồ chiến lược nhằm xác định doanh nghiệp có đạt được mục tiêu và tiến tới thực thi thành công chiến lược hay không. Chúng đóng vai trò là công cụ dẫn hướng cho các hành động mong muốn, cho tất cả nhân viên để đóng góp vào các mục tiêu chung của doanh nghiệp, đồng thời đưa ra cho nhà quản lý công cụ để xác định tiến trình chung để hướng tới mục tiêu chiến lược.
Sự cần thiết của thẻ cân bằng điểm Theo Robert Kaplan and David Norton, những gì chúng ta không đo được thì chúng ta sẽ không quản trị được. Thẻ điểm cân bằng là hệ thống đo lường thành quả hoạt động tối ưu nhất hiện nay, đã được nhiều doanh nghiệp trên thế giới áp dụng. Để trả lời cho câu hỏi tại sao cần thiết phải vận dụng Thẻ cân bằng điểm thì chúng ta cần xem xét những lý do sau: - Hạn chế của phương pháp truyền thống Dù mục tiêu tài chính là đích đến cuối cùng của đại bộ phận các doanh nghiệp trên thế giới nhưng việc phụ thuộc gần như duy nhất vào những thước đo tài chính đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết không thể khắc phục khi đánh giá thành quả hoạt động của các doanh nhiệp trong thời đại thông tin: Thứ nhất, thước đo tài chính truyền thống không cung cấp đầy đủ các thông tin để đánh giá thành quả hoạt động. Các báo cáo tài chính hiện nay cung cấp các thông tin tài chính mà không cung cấp đầy đủ thông tin phi tài chính như tài sản vô hình về trí tuệ , về năng lực của doanh nghiệp và không đưa ra được giá trị đáng tin cậy.
Thêm nữa, các thước đo tài chính chỉ đưa ra các kết quả trong quá khứ thiếu sức mạnh dự báo và thường được sử dụng để đánh giá thành quả của các nhà quản lý cấp cao, không thể sử dụng để đánh giá thành quả hoạt động của nhân viên cấp thấp. Thứ hai, hy sinh lợi ích trong dài hạn để đạt được các mục tiêu ngắn hạn. Các hoạt động tạo ra giá trị dài hạn trong doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu tài chính ngắn hạn như tối thiểu hóa chi phí bằng cách cắt giảm lao động. Điều này sẽ dẫn đến một sự thu hẹp về qui mô.