đặt vấn đề nhận dạng, nuôi dƣỡng và phát triển các nguồn lực để có thể tạo nên lợi thế cạnh tranh trên thị trƣờng nội địa và từng bƣớc vƣơn ra thị trƣờng quốc tế. Ngƣợc lại, nâng cao năng lực cạnh tranh giúp doanh nghiệp phát triển và hội nhập. Nó sẽ thúc đẩy tiến trình phát triển của doanh nghiệp bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển của doanh nghiệp. Nó còn giúp doanh nghiệp hội nhập kinh tế thuận lợi cả về chiều rộng và chiều sâu một cách chủ động.
Thứ hai, ngành xây dựng là ngành cung cấp sản phẩm là cơ sở hạ tầng của nền kinh tế nên có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc. Điều này đặt ra yêu cầu về chất lƣợng, tính hiệu quả rất cao đối với các doanh nghiệp xây dựng. Doanh nghiệp nào không thể đáp ứng đƣợc yêu cầu của thị trƣờng thì cũng đồng nghĩa với việc không có đủ năng lực cạnh tranh và sẽ bị đào thải. Thứ ba, do số lƣợng các doanh nghiệp xây dựng cùng cung ứng một loại sản phẩm trên thị trƣờng ngày càng tăng trong điều kiện hội nhập quốc tế và do nhu cầu của khách hàng luôn thay đổi, vì vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh để tạo một ƣu thế nổi trội so với các đối thủ là một nhiệm vụ sống còn của các nhà cung cấp để đánh bại đƣợc các đối thủ, thu hút và giữ chân khách hàng và kiếm đƣợc lợi nhuận.
Thứ tư, trong lĩnh vực xây dựng thì việc áp dụng công nghệ là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh cạnh tranh của các doanh nghiệp. Để nâng cao chất lƣợng sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng thì nhu cầu công nghệ là vô cùng quan trọng. Công nghệ sẽ góp phần tạo nên những chuyển biến mang tính độc đáo và tiện ích hơn, nó giúp các doanh nghiệp có thể cung ứng sản phẩm chất lƣợng cao, thời gian thi công ngắn và hiệu quả. Ngày nay, các doanh nghiệp xây dựng đang triển khai phát triển nhiều cách thức thi công ứng dụng công nghệ cao, và các nguyên vật liệu, máy móc, phƣơng án thi công mang tính chất công nghệ đƣợc sử dụng làm thƣớc đo cho sự cạnh tranh.
Trong giai đoạn hiện nay vấn đề có tính chất quyết định là mỗi doanh nghiệp phải luôn phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để sẵn sàng nắm lấy cơ hội và đủ khả năng đối mặt với các thách thức trong quá trình hội nhập để tồn tại và phát triển bền vững.2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng Năng lực cạnh tranh mà doanh nghiệp có đƣợc là do sự phấn đấu bền bỉ và lâu dài của doanh nghiệp. Nó là kết quả của rất nhiều hoạt động thực hiện theo chiến lƣợc cạnh tranh đã đề ra và phụ thuộc vào nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.1 Nhân tố bên ngoài 1.1 Cơ chế chính sách vĩ mô của Nhà nƣớc và của ngành xây dựng - Môi trƣờng chính trị: Đây là yếu tố có tác động lớn tới mọi doanh nghiệp. Nếu quốc gia nào có môi trƣờng chính trị ổn định, ít biến động, một thể chế minh bạch rõ ràng thì thu hút đƣợc rất nhiều nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp yên tâm kinh doanh vì tài sản của họ đƣợc đảm bảo, rủi ro cũng ít hơn. Đối với các doanh nghiệp nƣớc ngoài thì họ có thể xác định đầu tƣ làm ăn lâu dài tại quốc gia đó, còn với doanh nghiệp trong nƣớc thì có điều kiện phát huy năng lực cạnh tranh của mình.
- Môi trƣờng pháp lý: yếu tố này đƣợc mọi doanh nghiệp quan tâm vì nó ảnh hƣởng trực tiếp đến lợi ích cũng nhƣ nghĩa vụ của doanh nghiệp. Trƣớc khi bắt tay vào kinh doanh một lĩnh vực gì đó thì doanh nghiệp cũng phải xem xét tới hệ thống văn bản pháp lý của quốc gia có cho phép kinh doanh mặt hàng đó hay không? các thủ tục cần thiết là gì? những quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp ra sao?. Do vậy, nếu một quốc gia có hệ thống luật pháp cồng kềnh, phức tạp, chồng chéo, thủ tục hành chính rƣờm rà, nhiều tiêu cực, quá nhiều cửa, và đặc biệt hay thay đổi chính sách hoặc chính sách đƣa ra còn chƣa phù hợp với thực tế thì đây quả thực là rào cản vô cùng lớn cho doanh nghiệp, làm hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thƣơng trƣờng. - Môi trƣờng kinh tế : Bao gồm các chính sách phát triển kinh tế, chính sách thƣơng mại, chính sách cạnh tranh, chính sách đầu tƣ.Các chính sách và biện pháp kinh tế nhằm khuyến khích hay hạn chế, ƣu tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành cụ thể, do đó ảnh hƣởng tới năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp trong các ngành đó.
Do đó, các chính sách kinh tế, các quy định và thủ tục hành chính phải đơn giản, minh bạch, không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp sẽ có tác động mạnh tới kết quả, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp 12 Chính sách của Nhà nƣớc tác động tới doanh nghiệp qua hệ thống luật pháp và các văn bản dƣới luật liên quan đến chuyên ngành xây dựng. Chính sách của Nhà nƣớc có thể làm dẫn đến tăng hoặc giảm chi phí xây dựng của doanh nghiệp. Chính sách lãi suất, tỷ giá hối đoái ảnh hƣởng đến chi phí vốn của doanh nghiệp kinh doanh xây dựng. Nếu Nhà nƣớc quy định tỷ lệ lãi suất cao sẽ làm tăng chi phí của doanh nghiệp và ngƣợc lại.
Chính sách thuế, lệ phí và những ƣu đãi về thuế đối với doanh nghiệp có thể làm tăng hoặc giảm chi phí cho doanh nghiệp xây dựng. Các chính sách về tiền lƣơng, về giá cả, chế độ hƣu trí, trợ cấp…đều ảnh hƣởng đến chi phí của doanh nghiệp xây dựng. Chính sách đầu tƣ, phát triển kinh tế, chính sách cơ cấu tạo ra sự ƣu tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành, từng vùng kinh tế cụ thể do đó tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng thuộc các vùng, các ngành kinh tế nhất định. Các chính sách vĩ mô tạo ra môi trƣờng kinh doanh lành mạnh nếu Nhà nƣớc làm tốt công tác dự báo đối với các doanh nghiệp kinh doanh xây dựng.
- Bối cảnh quốc tế và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật: Ngày này thế giới đang chuyển biến mạnh mẽ, thời đại của hội nhập kinh tế quốc tế, của toàn cầu hoá, của công nghệ tự động hoá. Đó quả thực là vũ đài kinh tế lớn, là sân chơi chung cho mọi quốc gia, nó sẽ là cơ hội cho doanh nghiệp nào biết tận dụng. Đồng thời nó cũng tạo điều kiện tốt cho doanh nghiệp nâng cao đƣợc năng lực của mình bằng việc chuyển giao công nghệ, vốn, nhân lực có trình độ tay nghề vào trong sản xuất.2 Các đối thủ cạnh tranh Đối thủ cạnh tranh là nhân tố bên ngoài có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp. Trong một ngành nào đó mà tồn tại một hoặc một số doanh nghiệp thống lĩnh thì cƣờng độ cạnh tranh ít hơn và doanh nghiệp thống lĩnh đóng vai trò chỉ đạo giá.
Trong trƣờng hợp này nếu doanh nghiệp không ở vị trí thống lĩnh thì sức cạnh tranh là rất kém. Nhƣng nếu tồn tại nhiều doanh nghiệp có thế lực và quy mô tƣơng đƣơng nhau thì cạnh tranh trong ngành sẽ rất gay gắt. Cần phải coi trọng lợi thế so sánh của mình 13 và biến nó thành lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp nào có nhiều lợi thế cạnh tranh thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao hơn. Đối với các doanh nghiệp xây dựng, năng lực cạnh tranh thƣờng thể hiện ở khả năng trúng thầu bởi phần lớn các công trình xây dựng ở Việt Nam đều sử dụng hình thức đấu thầu để lựa chọn ngƣời thực hiện.
Số lƣợng cũng nhƣ khả năng cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh quyết định mức độ cạnh tranh trong các cuộc đấu thầu. Để trúng thầu, công ty phải vƣợt qua đƣợc tất cả các đối thủ cạnh tranh tham dự đấu thầu tức là phải đảm bảo đƣợc năng lực vƣợt trội của mình trƣớc các đối thủ cạnh tranh hiện tại với các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Do vậy, sự hiểu biết đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp kinh doanh xây dựng. Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào các yếu tố nhƣ số lƣợng các công ty tham gia cạnh tranh, tốc độ tăng trƣởng của ngành, sự đa dạng hoá của các đối thủ cạnh tranh, hàng rào cản trở sự xâm nhập của các đối thủ tiềm ẩn mới.
Hiện nay, các doanh nghiệp xây dựng trong nƣớc phải cạnh tranh với các đối thủ mạnh là các công ty nƣớc ngoài có trình độ phát triển cao. Việc thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhằm mục tiêu tăng nguồn vốn, tranh thủ công nghệ tiên tiến, thâm nhập thị trƣờng và kỹ năng quản lý, việc này, một mặt tạo ra sức phát triển mới cho các doanh nghiệp trong nƣớc, mặt khác làm cho mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng thêm quyết liệt.3 Điều kiện tự nhiên địa lý Sản phẩm cuối cùng của ngành xây dựng thƣờng to lớn, nặng và đắt tiền. Nó đòi hỏi một khu vực địa lý rộng và hầu hết đều đƣợc làm riêng theo yêu cầu của chủ đầu tƣ làm cho hoạt động sản xuất thiếu tính ổn định, có tính lƣu động theo vùng lãnh thổ. Việc hiểu rõ đƣợc địa điểm thi công không dễ dàng nên trong quá trình thi công có thể gặp phải một số bất lợi làm tăng chi phí cho doanh nghiệp nhƣ sau: - Các phƣơng án công nghệ và doanh nghiệp kinh doanh xây dựng phải luôn biến đổi phù hợp với thời gian và địa điểm xây dựng, do đó gây ra khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và làm nảy sinh nhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lƣợng sản xuất cũng nhƣ cho công trình tạm phục vụ thi công.
- Do địa điểm xây dựng nói chung thực hiện ở ngoài trời nên các doanh nghiệp xây dựng luôn phải chịu ảnh hƣởng của điều kiện thiên nhiên tới hoạt động lao động. 14 Đặc điểm này làm cho các doanh nghiệp xây dựng khó lƣờng trƣớc đƣợc nhƣng khó khăn phát sinh nhƣ: quá trình sản xuất có thể bị gián đoạn do mƣa bão hoặc có những rủi ro bất ngờ cho sản xuất.