Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế "Phát triển doanh nghiệp theo hướng xanh - nghiên cứu trường hợp doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn Thành phố Hà Nội" do nghiên cứu sinh Phạm Hoàng Long thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (chuyên ngành Kinh tế phát triển, năm 2024).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian qua đối mặt với nhiều bất cập khi mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, thâm dụng nguồn lực, gây ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Nhằm khắc phục tình trạng này, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021).

Hà Nội là trung tâm kinh tế, văn hóa và giữ vai trò dẫn dắt trong cả nước, song theo kết quả công bố Chỉ số xanh cấp tỉnh (PGI) năm 2022 của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hà Nội xếp hạng 63/63 tỉnh, thành phố. Các chỉ tiêu về giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu cũng như chính sách ưu đãi, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp bảo vệ môi trường đều ở mức rất thấp.

Đối với ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT), năm 2021 Hà Nội có khoảng 900 doanh nghiệp hoạt động, trong đó có khoảng 300 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn quốc tế và tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia. Giá trị sản xuất của CNHT chiếm khoảng 16% giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Thủ đô, duy trì mức tăng trưởng trên 11%/năm.

Việc chuyển đổi sang mô hình phát triển xanh là yêu cầu cấp thiết do ba nguyên nhân:

  1. Hoạt động sản xuất công nghiệp hiện tại gây nhiều hệ lụy cho môi trường;
  2. Cơ chế chính sách của Nhà nước và áp lực từ thị trường đòi hỏi tuân thủ các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường;
  3. Yêu cầu đáp ứng rào cản kỹ thuật và sinh thái trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.

Dù vậy, doanh nghiệp CNHT tại Hà Nội đang đối mặt với các rào cản nội tại (nhận thức, năng lực tài chính, chiến lược) và rào cản bên ngoài (hạ tầng kỹ thuật, cơ chế chính sách, chế tài xử phạt). Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để hoạch định chính sách phát triển doanh nghiệp CNHT theo hướng xanh tại Hà Nội là khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế phát triển.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Đánh giá thực trạng phát triển theo hướng xanh của các doanh nghiệp CNHT trên địa bàn thành phố Hà Nội; từ đó đề xuất các quan điểm, định hướng, giải pháp và kiến nghị chính sách nhằm thúc đẩy phát triển theo hướng xanh đối với các doanh nghiệp CNHT nói riêng và doanh nghiệp sản xuất nói chung.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa, phân tích và đánh giá cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển doanh nghiệp theo hướng xanh; làm rõ sự khác biệt giữa phát triển doanh nghiệp truyền thống và phát triển doanh nghiệp theo hướng xanh; xác định nội dung, tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng mang tính đặc thù của ngành CNHT.
    2. Xây dựng bộ công cụ điều tra khảo sát để thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp phục vụ phân tích thực trạng và lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố đến quá trình phát triển xanh của doanh nghiệp CNHT Hà Nội.
    3. Phân tích thực trạng phát triển xanh của doanh nghiệp CNHT giai đoạn 2011 - 2021, chỉ rõ các kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
    4. Đề xuất hệ thống quan điểm, mục tiêu và các nhóm giải pháp, kiến nghị chính sách đối với các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức liên quan đến năm 2030, tầm nhìn 2050.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Thứ nhất: Nội hàm và tiêu chí đánh giá phát triển doanh nghiệp CNHT theo hướng xanh là gì? Thực tế phát triển các doanh nghiệp CNHT theo hướng xanh trên địa bàn thành phố Hà Nội đã và đang diễn ra như thế nào?
  2. Thứ hai: Các yếu tố nào thực sự tác động và mức độ tác động đến sự phát triển theo hướng xanh của các doanh nghiệp CNHT trên địa bàn thành phố Hà Nội?
  3. Thứ ba: Để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp CNHT trên địa bàn thành phố Hà Nội theo hướng xanh, giải pháp là gì?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình phát triển theo hướng xanh của các doanh nghiệp CNHT trên địa bàn thành phố Hà Nội, bao gồm: chuyển biến nhận thức; hiện thực hóa vào chiến lược; xanh hóa các yếu tố đầu vào; xanh hóa quá trình sản xuất; nghiên cứu sản xuất sản phẩm/dịch vụ thân thiện môi trường và lan tỏa hành động xanh đến chuỗi giá trị và cộng đồng.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 2011 - 2021; đề xuất giải pháp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
    • Không gian: Địa bàn Thành phố Hà Nội.
    • Nội dung: Tập trung vào nội hàm, tiêu chí đo lường mức độ phát triển xanh, các yếu tố tác động (bên trong và bên ngoài) và giải pháp kinh tế thúc đẩy phát triển doanh nghiệp CNHT theo hướng xanh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án tổng quan các công trình nghiên cứu theo hai nhóm vấn đề chính:

Hướng nghiên cứu Các tác giả, công trình tiêu biểu Nội dung và kết quả chính được điểm lại
Phát triển doanh nghiệp và CNHT Hoàng Văn Châu (2010), Nguyễn Thị Kim Thu (2012), Hà Thị Hương Lan (2013), Trương Thị Chí Bình (2010), Trần Đình Thiên, Đỗ Thúy Nga, Hoàng Văn Việt (2014), Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 1255/QĐ-TTg, 2018). Hệ thống hóa khái niệm, đặc điểm ngành CNHT (tính đa cấp, liên kết chuỗi, phụ thuộc ngành chính); đề xuất các tiêu chí đánh giá quy mô, số lượng, trình độ công nghệ, năng lực cạnh tranh, tỷ lệ nội địa hóa; phân tích tác động của chính sách chính phủ, tập đoàn đa quốc gia, hạ tầng và dung lượng thị trường.
Phát triển DN gắn với hoạt động xanh và đổi mới xanh Thomsen C. (2013), Hoàng Hồng Hạnh, Chin & cộng sự (2016), Castellacci & Lie (2017), Antal Szabó (2017), Buysse & cộng sự (2003), Lin & Ho (2011), Singh & cộng sự (2011), UNIDO & UNEP (2010), Ashford N., EC (2008), Alasdair Reid & Michal Miedzinski (2008), Ming-Horng Weng & Chieh-Yu Lin (2011), Tsagarakis (2011), Han Jing & ctg (2012), Zhang Jiangxue & ctg (2013), Andrea Beltramello & ctg (2013), Kuldip Singh Sangwan, Mirza Abdullah et al. (2015), De Jesus Pacheco & ctg (2016), Bossle MB & ctg (2016), Eric Koester (2016), Oliver Cronstam, Feng Xiaoxu (2017), Sorana Elena Sîrb (2018), Wangmin Lu (2019), Harun Ur Rashid, W.L. Lin & ctg (2019), X. Xie & ctg (2019), Apurbo Sarkar & ctg (2020), Yali Zhang & ctg (2020), Li Ye & ctg, Nguyễn Anh Tuấn (2021), Hồ Công Hòa (2016). Định nghĩa doanh nghiệp xanh, đổi mới xanh (green innovation) và sản xuất sạch hơn; phân loại hoạt động xanh (ISO 14001, xử lý chất thải, tiết kiệm năng lượng/nước, sản phẩm sinh thái); xác định các rào cản (tài chính, chi phí công nghệ, thiếu hụt thông tin, quy định pháp lý) và động lực thúc đẩy (áp lực khách hàng, quy định môi trường, hình ảnh thương hiệu, hiệu suất tài chính CFP).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

  1. Các nghiên cứu trong nước về tăng trưởng xanh đa số tiếp cận ở tầm vĩ mô (toàn bộ nền kinh tế, cấp vùng, cấp tỉnh) hoặc tiếp cận vi mô dưới góc độ trách nhiệm xã hội và kỹ thuật môi trường, chưa đi sâu vào bản chất quá trình vận động phát triển doanh nghiệp dưới góc độ Kinh tế phát triển.
  2. Thiếu bộ tiêu chí toàn diện, đặc thù kết hợp cả yếu tố nhận thức, quản trị chiến lược, đầu vào, quy trình sản xuất và đầu ra cho loại hình doanh nghiệp CNHT.
  3. Chưa có công trình nào đánh giá thực nghiệm toàn diện về mức độ phát triển xanh và kiểm định mô hình định lượng các nhân tố tác động (bên trong và bên ngoài) đối với các doanh nghiệp CNHT cụ thể trên địa bàn Thành phố Hà Nội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Khái niệm phát triển doanh nghiệp theo hướng xanh: Luận án định nghĩa đây là quá trình cải thiện về chất của doanh nghiệp gắn với việc sử dụng hiệu quả năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, tiến tới phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường nhằm mục tiêu giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển thương hiệu.
  • Hai trụ cột cốt lõi: Kinh tế (hiệu quả, chi phí, thị trường) và Môi trường (tiết kiệm tài nguyên, kiểm soát và giảm phát thải).
  • Năm nội dung chuyển đổi xanh của doanh nghiệp:
    1. Chuyển biến về nhận thức của lãnh đạo và người lao động;
    2. Hiện thực hóa nhận thức xanh vào chiến lược phát triển dài hạn và kế hoạch hàng năm;
    3. Xanh hóa các yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất (nguyên vật liệu sạch, công nghệ sạch, nhân lực môi trường);
    4. Xanh hóa quá trình sản xuất (tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nước, kiểm soát và xử lý chất thải);
    5. Nghiên cứu, sản xuất sản phẩm/dịch vụ xanh và lan tỏa hành vi xanh đến chuỗi cung ứng, đối tác, cộng đồng.
  • Bốn cấp độ phát triển xanh:
    • Cấp độ 1: Doanh nghiệp chưa hiểu hoặc nhận thức chưa đúng về phát triển xanh, chưa tuân thủ quy định môi trường.
    • Cấp độ 2: Doanh nghiệp đã nhận thức đúng, tuân thủ quy định môi trường, có mong muốn chuyển đổi nhưng chưa đủ nguồn lực triển khai.
    • Cấp độ 3: Doanh nghiệp đã triển khai một hoặc một số hoạt động xanh (đổi mới công nghệ, xử lý chất thải, tiết kiệm năng lượng, nghiên cứu sản phẩm xanh).
    • Cấp độ 4: Doanh nghiệp phát triển xanh toàn diện và lan tỏa hành động xanh đến cộng đồng và các thành phần trong hệ sinh thái.
Khung phân tích luận án:

Bộ tiêu chí và thang đo đánh giá

Luận án xây dựng khung tiêu chí đánh giá mức độ phát triển theo hướng xanh của doanh nghiệp gồm 4 nhóm lớn, 10 tiêu chí và 23 chỉ báo đo lường qua thang đo Likert 5 điểm:

Nhóm tiêu chí Mã hóa Nội dung chỉ báo Nguồn tham khảo
I. Đổi mới tư duy và nhận thức NT1 - NT3 Nhận thức về tài chính, lợi thế cạnh tranh/thị trường, quan hệ đối tác. OECD (2011), Nguyễn Anh Tuấn (2021)
CL1 - CL3 Triển khai tập huấn, xây dựng mục tiêu môi trường, lồng ghép vào chiến lược. Carbon Trust (2012), Tác giả
II. Xanh hóa yếu tố đầu vào NLX1 - NLX3 Tiêu chí nhà cung cấp xanh, sử dụng phế phẩm đã xử lý, xử lý chất thải đầu ra tái sử dụng. OECD (2009), Carbon Trust (2012)
CN1 - CN3 Đầu tư công nghệ mới, áp dụng sản xuất sạch hơn, triển khai hệ thống quản lý môi trường. VICEM, VCCI (2016), OECD (2009)
NNL1 - NNL4 Tuyển dụng nhân lực môi trường, lập bộ phận chuyên trách, đào tạo kỹ năng xanh, bộ phận cải tiến kỹ thuật xanh. Carbon Trust (2012), VICEM (2016)
III. Xanh hóa quá trình sản xuất KSPT1 - KSPT3 Đo lường phát thải, mục tiêu giảm phát thải định kỳ, đầu tư dây chuyền xử lý chất thải. Carbon Trust (2012), OECD (2009)
NL1 - NL3 Định mức tiêu thụ năng lượng, dùng thiết bị tiết kiệm điện, biện pháp giảm năng lượng tiêu thụ. Carbon Trust (2012), OECD (2009)
TK1 - TK3 Thu thập dữ liệu dùng nước, lắp thiết bị tiết kiệm nước, thiết kế lại quy trình tiết kiệm nước. Carbon Trust (2012), OECD (2009)
IV. Xanh hóa sản phẩm đầu ra SPX1 - SPX2 Bộ phận R&D sản phẩm xanh, sản xuất và cung cấp sản phẩm dán nhãn sinh thái. Carbon Trust (2012), OECD (2009)
LT1 - LT3 Khẩu hiệu/biểu ngữ xanh, đi đầu phong trào bảo vệ môi trường, trao đổi với đối tác về tiêu chuẩn xanh. OECD (2009), Nguyễn Anh Tuấn (2021)

Các nhóm yếu tố tác động

Luận án phân loại 8 yếu tố ảnh hưởng gồm:

  1. Yếu tố bên ngoài: Cơ chế chính sách của Chính phủ và địa phương; Tương tác giữa các thành phần trong hệ sinh thái doanh nghiệp; Nhu cầu thị trường; Tiến bộ khoa học - công nghệ.
  2. Yếu tố bên trong: Kỹ năng của lãnh đạo và người lao động; Năng lực tài chính; Nhận thức của doanh nghiệp; Văn hóa doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp phân tích hệ thống: Hệ thống hóa các lý thuyết về phát triển xanh và phát triển công nghiệp hỗ trợ.
  • Phương pháp thống kê mô tả và so sánh: Tổng hợp, phân loại, so sánh biến động số liệu giai đoạn 2011 - 2021.
  • Phương pháp định lượng:
    • Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha.
    • Phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm rút gọn các biến quan sát, kiểm định độ hội tụ và phân biệt.
    • Kiểm định KMO và Bartlett's test, kiểm tra Tổng phương sai giải thích.
    • Kiểm định chỉ số tương quan Heterotrait-Monotrait Ratio (HTMT) và đánh giá hiện tượng đa cộng tuyến qua hệ số phóng đại phương sai (VIF).
    • Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để xác định cường độ tác động của các nhân tố đến mức độ phát triển xanh.
  • Phương pháp dự báo: Đánh giá xu thế dịch chuyển ngành CNHT và kinh tế xanh đến năm 2030, tầm nhìn 2050.
  • Nguồn dữ liệu:
    • Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát 300 phiếu tại các doanh nghiệp CNHT Hà Nội thuộc các ngành: cơ khí chế tạo linh kiện, dệt may, da giày, linh kiện điện tử... (chọn 5 - 15 DN tiêu biểu mỗi ngành; khảo sát 5 nhóm chức danh: Lãnh đạo, cán bộ môi trường, phụ trách R&D, phụ trách sản xuất, phụ trách tài chính/đầu tư; tỷ lệ phản hồi dự kiến 80%). Thực hiện khảo sát thử nghiệm 15 doanh nghiệp (gồm 3 phỏng vấn sâu trực tiếp) trước khi gửi diện rộng.
    • Dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp từ UBND TP. Hà Nội, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê, VCCI, Sở Công Thương Hà Nội, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp CNHT Hà Nội, Trung tâm Hỗ trợ phát triển DN CNHT.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước thành 2 nhóm nội dung: phát triển doanh nghiệp CNHT và phát triển doanh nghiệp gắn với hoạt động xanh. Tác giả phân tích các mô hình chính sách phát triển CNHT của Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia; các khung lý thuyết về đổi mới sinh thái (eco-innovation), sản xuất bền vững và bộ tiêu chí của OECD, UNIDO, UNEP.

Chương này chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu nhìn nhận phát triển xanh dưới góc độ kỹ thuật xử lý môi trường hoặc chính sách vĩ mô, thiếu các mô hình định lượng đo lường đa chiều cho doanh nghiệp sản xuất trung gian (CNHT). Từ đó, luận án xác lập hướng nghiên cứu riêng: xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá cấp độ phát triển xanh và kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng tại Hà Nội.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển doanh nghiệp theo hướng xanh

Chương 2 làm rõ các khái niệm phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh và phát triển doanh nghiệp theo hướng xanh. Luận án phân tích 4 đặc điểm cốt lõi của doanh nghiệp CNHT: tính đa cấp, tính hệ thống liên kết theo chuỗi, tính đa dạng về công nghệ sản xuất, và cấu trúc chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Chương này thiết lập:

  1. Nội dung 5 bước chuyển dịch từ nhận thức sang chiến lược, đầu vào, sản xuất và sản phẩm đầu ra;
  2. Khung phân cấp 4 mức độ phát triển xanh của doanh nghiệp;
  3. Bảng tiêu chí và thang đo chi tiết 23 chỉ báo;
  4. Mô hình lý thuyết về các nhân tố tác động bên trong (lãnh đạo, tài chính, văn hóa, nhân lực) và bên ngoài (chính sách, hệ sinh thái, thị trường, công nghệ).

Ngoài ra, chương 2 tổng kết kinh nghiệm phát triển xanh của một số nước và rút ra bài học cho các địa phương tại Việt Nam.

Chương 3: Thực trạng phát triển theo hướng xanh các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Chương 3 trình bày bức tranh thực tế của các doanh nghiệp CNHT Hà Nội trong giai đoạn 2011 - 2021:

  • Bối cảnh và quy mô ngành: Hà Nội có khoảng 900 doanh nghiệp CNHT, chiếm 16% giá trị sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo Thủ đô; tốc độ tăng trưởng chỉ số phát triển công nghiệp CNHT duy trì trên 11%/năm. Khoảng 300 doanh nghiệp đạt chuẩn quốc tế tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, chỉ số xanh PGI năm 2022 của Hà Nội đứng cuối bảng xếp hạng (63/63).
  • Kết quả thống kê thực trạng phát triển xanh:
    • Nhận thức và chiến lược: Doanh nghiệp đã bước đầu nhận thức được vai trò của phát triển xanh đối với thị trường và quan hệ đối tác, nhưng tỷ lệ lồng ghép chính thức vào chiến lược dài hạn còn hạn chế.
    • Đầu vào và công nghệ: Việc tìm kiếm nguyên liệu tái chế và áp dụng sản xuất sạch hơn (SXSH) gặp trở ngại do thiếu nhà cung ứng đạt chuẩn và chi phí đổi mới công nghệ cao.
    • Quá trình sản xuất: Tiết kiệm năng lượng và nước được quan tâm nhiều hơn do trực tiếp làm giảm chi phí vận hành, trong khi khâu xử lý phát thải chủ yếu dừng ở mức tuân thủ đối phó quy định.
    • Sản phẩm đầu ra và lan tỏa: Số lượng sản phẩm dán nhãn sinh thái còn rất ít; các hoạt động liên kết, lan tỏa xanh trong chuỗi cung ứng còn yếu.
  • Kết quả phân tích định lượng (EFA & SEM):
    • Các thang đo đều đạt độ tin cậy qua kiểm định Cronbach's Alpha và độ giá trị qua EFA, KMO, Bartlett's test.
    • Kiểm định HTMT và VIF cho thấy mô hình không bị vi phạm tính phân biệt và không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.
    • Kết quả mô hình SEM xác nhận tác động có ý nghĩa thống kê của các nhóm nhân tố: Cơ chế chính sách của chính quyền, Năng lực lãnh đạo quản lý, Năng lực tài chính, Tương tác trong hệ sinh thái và Văn hóa doanh nghiệp đến mức độ phát triển xanh của doanh nghiệp CNHT.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp phát triển theo hướng xanh đối với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Chương 4 đưa ra các căn cứ định hướng, mục tiêu và giải pháp phát triển xanh cho doanh nghiệp CNHT đến năm 2030, tầm nhìn 2050:

  • Quan điểm phát triển: Phát triển xanh là xu thế bắt buộc, vừa là mục tiêu vừa là phương thức nâng cao sức cạnh tranh của công nghiệp Thủ đô; phát triển xanh phải kết hợp giữa nỗ lực tự thân của doanh nghiệp với sự hỗ trợ, kiến tạo của chính quyền và sự hợp tác trong toàn bộ hệ sinh thái.
  • Mục tiêu: Nâng cao tỷ lệ doanh nghiệp CNHT đạt cấp độ phát triển xanh 3 và 4; tăng tỷ lệ nội địa hóa xanh; cải thiện căn bản thứ hạng PGI của thành phố Hà Nội.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất:
    1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách: Xây dựng các gói hỗ trợ tài chính xanh, ưu đãi thuế, tín dụng cho các dự án chuyển đổi công nghệ sạch; đơn giản hóa thủ tục hành chính môi trường.
    2. Phát triển hệ sinh thái CNHT xanh: Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp CNHT với các tập đoàn FDI đa quốc gia, viện nghiên cứu, trường đại học; thành lập các cụm/khu công nghiệp hỗ trợ chuyên ngành đạt chuẩn sinh thái.
    3. Nâng cao năng lực nội tại doanh nghiệp: Hỗ trợ đào tạo nhân lực chuyên môn về môi trường; hỗ trợ tư vấn chuyển giao công nghệ và áp dụng các hệ thống quản lý ISO 14001, sản xuất sạch hơn.
    4. Phát triển thị trường và chuỗi giá trị xanh: Xây dựng cổng thông tin kết nối cung - cầu nguyên liệu xanh, hỗ trợ chứng nhận sản phẩm dán nhãn sinh thái.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án đã chuẩn hóa khái niệm "Phát triển doanh nghiệp theo hướng xanh" dưới giác độ chuyên ngành Kinh tế phát triển, phân biệt với các khái niệm phát triển doanh nghiệp truyền thống (vốn chỉ đo lường sự tăng trưởng quy mô, doanh thu, số lượng).
  2. Xây dựng khung lý thuyết gồm 5 nội dung vận động chuyển đổi xanh và phân tầng 4 cấp độ phát triển xanh cho doanh nghiệp sản xuất.
  3. Thiết lập hệ thống tiêu chí và thang đo gồm 4 nhóm lớn (10 tiêu chí, 23 chỉ báo) phù hợp với đặc thù sản xuất linh kiện, phụ tùng của các doanh nghiệp CNHT.
  4. Bổ sung bằng chứng thực nghiệm về mô hình cấu trúc lượng hóa các nhân tố tác động đa chiều (chính sách, hệ sinh thái, lãnh đạo, tài chính, văn hóa) đến quá trình xanh hóa của doanh nghiệp.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Phản ánh thực trạng phát triển xanh của khoảng 900 doanh nghiệp CNHT tại Hà Nội giai đoạn 2011 - 2021; làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự mâu thuẫn giữa quy mô công nghiệp phát triển và thứ hạng PGI thấp (xếp 63/63) của thành phố.
  2. Cung cấp bộ công cụ đo lường thực tế giúp doanh nghiệp tự định vị cấp độ xanh của mình, từ đó điều chỉnh các khâu từ nguyên liệu đầu vào, quản trị quy trình đến thiết kế sản phẩm.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể cho UBND Thành phố Hà Nội, Sở Công Thương và các cơ quan quản lý trong việc ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật, chính sách ưu đãi tín dụng và kiến tạo hệ sinh thái liên kết công nghiệp hỗ trợ theo hướng xanh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Không gian nghiên cứu chỉ tập trung trên địa bàn Thành phố Hà Nội, chưa thực hiện so sánh đối chứng toàn diện với các trung tâm công nghiệp lớn khác như TP. Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Bình Dương, Đồng Nai.
    • Đối tượng khảo sát tập trung chủ yếu vào các ngành CNHT trọng điểm (cơ khí, điện tử, dệt may, da giày), chưa bao phủ toàn bộ các phân ngành hỗ trợ công nghệ cao.
    • Giới hạn chuỗi dữ liệu thực trạng dừng ở mốc 2021, chưa ghi nhận đầy đủ các biến động kinh tế sau giai đoạn phục hồi dịch bệnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát liên vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ hoặc quy mô toàn quốc.
    • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tài chính vi mô và thị trường tín chỉ carbon tác động đến quá trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  1. Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế: Tham khảo khung lý thuyết, bộ chỉ báo Likert 23 biến quan sát và quy trình phân tích định lượng SEM/EFA về chuyển đổi xanh doanh nghiệp.
  2. Cơ quan quản lý nhà nước (UBND TP. Hà Nội, Sở Công Thương, Sở KH&ĐT): Sử dụng các kết quả đánh giá thực trạng và khuyến nghị giải pháp để hoàn thiện chính sách hỗ trợ CNHT, quy hoạch cụm công nghiệp sinh thái và cải thiện Chỉ số xanh cấp tỉnh (PGI).
  3. Hiệp hội và chủ doanh nghiệp CNHT: Sử dụng bộ tiêu chí để tự đánh giá năng lực xanh hóa, tái cấu trúc quy trình sản xuất sạch hơn và đáp ứng tiêu chuẩn tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

1. Chỉ số xanh cấp tỉnh (PGI) năm 2022 của Hà Nội xếp thứ mấy và số liệu này phản ánh điều gì trong luận án?
Theo công bố của VCCI năm 2022, PGI của Hà Nội xếp hạng 63/63 tỉnh thành. Số liệu này là một trong những căn cứ thực tiễn quan trọng được tác giả đặt ra ở phần mở đầu, cho thấy sự bất cập giữa vị thế trung tâm kinh tế của Thủ đô với mức độ giảm thiểu ô nhiễm, chính sách ưu đãi và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp bảo vệ môi trường.

2. Quy mô và đóng góp của các doanh nghiệp CNHT trên địa bàn Hà Nội được ghi nhận như thế nào trong văn bản?
Tính đến năm 2021, Hà Nội có khoảng 900 doanh nghiệp CNHT, trong đó khoảng 300 doanh nghiệp đạt chuẩn quốc tế tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu. CNHT đóng góp khoảng 16% giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Thủ đô và có chỉ số tăng trưởng giá trị sản xuất hàng năm đạt trên 11%.

3. Khung phân cấp độ phát triển xanh của doanh nghiệp trong luận án gồm những cấp độ nào?
Khung phân loại gồm 4 cấp độ:

  • Cấp độ 1: Chưa hiểu/nhận thức chưa đúng, không tuân thủ quy định môi trường, không có chiến lược xanh;
  • Cấp độ 2: Nhận thức đúng, tuân thủ quy định môi trường, muốn chuyển đổi nhưng thiếu nguồn lực;
  • Cấp độ 3: Đã triển khai một số hoạt động xanh cụ thể (đổi mới công nghệ, xử lý chất thải, tiết kiệm năng lượng, nghiên cứu sản phẩm xanh);
  • Cấp độ 4: Phát triển xanh toàn diện và lan tỏa hành động xanh đến cộng đồng, đối tác trong hệ sinh thái.

4. Quy mô mẫu khảo sát sơ cấp và các nhóm đối tượng được tác giả lấy ý kiến gồm những ai?
Tác giả phát hành tổng số 300 phiếu điều tra tại các doanh nghiệp CNHT (chọn 5 - 15 DN tiêu biểu mỗi lĩnh vực: cơ khí, điện tử, dệt may, da giày...). Tại mỗi doanh nghiệp, phiếu được gửi đến 5 nhóm đối tượng: Lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ phụ trách môi trường, phụ trách R&D, phụ trách sản xuất và phụ trách tài chính/đầu tư. Ngoài ra, tác giả khảo sát thử nghiệm 15 DN (trong đó có 3 DN phỏng vấn trực tiếp).

5. Luận án sử dụng các kỹ thuật định lượng nào để kiểm định mô hình các yếu tố tác động?
Luận án áp dụng: Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach's Alpha; Phân tích nhân tố khám phá (EFA); Kiểm định KMO and Bartlett's test; Tính Tổng phương sai giải thích; Kiểm định tỷ số Heterotrait-Monotrait (HTMT); Đánh giá đa cộng tuyến bằng hệ số phóng đại phương sai (VIF); và Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Hoàng Long đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề phát triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ theo hướng xanh trên địa bàn Thành phố Hà Nội dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế phát triển. Công trình đã chuẩn hóa khung lý luận, xây dựng bộ tiêu chí đo lường 23 chỉ báo và xác lập 4 cấp độ phát triển xanh của doanh nghiệp. Thông qua kết hợp phương pháp phân tích thống kê thực trạng giai đoạn 2011 - 2021 và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), luận án đã chỉ rõ các nút thắt nội tại cũng như ảnh hưởng của hệ sinh thái chính sách, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ Thủ đô chuyển đổi xanh hiệu quả đến năm 2030, tầm nhìn 2050.