phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan và những vấn đề lý luận về chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. 4 z Chƣơng 3: Thực trạng chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở các nƣớc Đông Á. Chƣơng 4: Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam và kinh nghiệm của các nƣớc Đông Á.
5 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Để việc nghiên cứu tài liệu đƣợc thuận lợi và có tính hệ thống, luận văn sẽ tổng quan tài liệu theo nhóm các vấn đề. Nhóm các tài liệu về các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển CNHT Nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng về các yếu tố cấu thành nên lợi thế cạnh tranh của các ngành công nghiệp, cũng nhƣ vai trò và mối liên hệ giữa các khâu, các công đoạn trong chuỗi giá trị sản xuất sản phẩm, thực tế, đã đƣợc các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu hàng đầu quan tâm từ lâu. Năm 1990, “Công nghiệp liên quan và hỗ trợ” đã đƣợc M.
Porter nhắc đến trong “Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia” (The competitive advantage of nations, Harvard business review 1990). Trong đó, cụm từ này đã đƣợc phân tích nhƣ là một trong năm yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia. Tuy nhiên, các nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ nhiều nhất vẫn là ở các quốc gia Đông Á, đặc biệt là Nhật Bản, nơi ra đời khái niệm công nghiệp hỗ trợ. Tình hình thuê ngoài và các nhà cung ứng cho các doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản đã đƣợc phân tích trong “Chi nhánh các nhà lắp ráp Nhật Bản ở châu Á” (Japanese-Affiliated Manufactures in Asia), JETRO thực hiện năm 2003; và “Báo cáo khảo sát các bộ phận ở nước ngoài của các công ty lắp ráp Nhật Bản” (Survey report on overseas business operations by Japanese manufacturing companies) do Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) xuất bản năm 2004.
Báo cáo chỉ ra rằng, chi nhánh các tập đoàn Nhật Bản ở châu Á, đặc biệt là Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sử dụng hệ thống thầu phụ đƣợc hình thành với vai trò mạnh mẽ của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện có vốn đầu tƣ từ Nhật Bản. Năm 1998, nghiên cứu của Goh Ban Lee, Đại học Sains, Malaysia, “Liên kết giữa các tập đoàn đa quốc gia và các ngành công nghiệp hỗ trợ nội địa” (Linkage 6 z between the Multinational Corporations and Local Supporting Industries) đã đánh giá rất cao vai trò của chính sách phát triển nguồn nhân lực và các chính sách hỗ trợ liên kết của chính phủ Malaysia giữa các tập đoàn điện tử gia dụng của Nhật Bản với các doanh nghiệp nội địa sản xuất linh kiện cho ngành điện tử. Ratana E (1999), The role of small and medium supporting industries in Japan and Thailand, IDE APEC. Báo cáo đã làm rõ vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong công nghiệp hỗ trợ, cung cấp các linh kiện, phụ kiện cho nền công nghiệp của Nhật Bản và Thái Lan trong thập niên 80 - 90 của thế kỷ XX.
Lê Thế Giới, Tiếp cận lý thuyết cụm công nghiệp và hệ sinh thái kinh doanh trong nghiên cứu chính sách thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 1 - 2009. Bài viết bàn về các luận điểm cơ bản của lý thuyết cụm công nghiệp và lý thuyết hệ sinh thái kinh doanh trong phát triển các lợi thế cạnh tranh công nghiệp ở cấp độ quốc gia, vùng và địa phƣơng. Từ đó, phân tích làm rõ mối quan hệ giữa công nghiệp hỗ trợ với cụm công nghiệp và hệ sinh thái kinh doanh. Và trên cơ sở nhận diện các nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam, tác giả đƣa ra các khuyến nghị trong trong nghiên cứu chính sách thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam.
Nhóm các tài liệu về chính sách phát triển CNHT ở các nước Experiences and Lessons of Economic Development in Taiwan của Kwoh- ting Li và Tzong-shian Yu (Academia Sinica, Taipei, Taiwan, Republic of China - 1982). Cuốn sách đã phân tích, làm rõ những thành tựu phát triển kinh tế nói chung, công nghiệp nói riêng của Đài Loan, từ đó khái quát thành những bài học kinh nghiệm cho các quốc gia đang phát triển. Trong những bài học đƣợc nêu lên, một bài học đặc biệt quan trọng, đó là Đài Loan đã rất quan tâm đến phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, làm tiền đề cho toàn bộ nền kinh tế phát triển. Hàn Quốc là một trong những nƣớc có nền công nghiệp phát triển nhanh chóng và trở thành niềm ao ƣớc của phần lớn các nƣớc đang phát triển trên thế giới.
Trong cuốn sách: "Hàn Quốc: nền công nghiệp trẻ trỗi dậy" của Vũ Đăng Hinh, 7 z (1996), tác giả đã phân tích những chính sách đẩy mạnh phát triển công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ ở Hàn Quốc những năm 1980 - 1990. Năm 2002, Tổ chức năng suất châu Á (Asian productivtity Orgnisation) đã đúc kết kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ trong cuốn “Đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ: các kinh nghiệm của châu Á” (Strengthening of supporting Industries: Asian Experiences). Đây là tài liệu hữu ích cho các nƣớc đang phát triển về chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ qua các thời kỳ ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Các chính sách này tập trung vào một số điểm chính: thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài vào phát triển công nghiệp hỗ trợ, quy định về tỷ lệ nội địa hoá và các hỗ trợ mạnh mẽ hiệu quả từ phía Chính phủ dành cho liên kết doanh nghiệp, nhƣ là điều kiện tiên quyết để phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Cuốn sách khẳng định, phát triển công nghiệp hỗ trợ thành công, nhƣ thực tiễn đã cho thấy, là một trong những nguyên nhân cơ bản giúp các nền kinh tế châu Á giải quyết đƣợc các nhiệm vụ đặt ra trong nỗ lực xây dựng nhanh một nền công nghiệp hiện đại, kết nối đƣợc vào mạng sản xuất toàn cầu, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách phát triển với các nền kinh tế đi trƣớc. Cuốn sách đã đúc kết kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ ở một số nƣớc châu Á, khái quát chúng thành một số bài học cho các nền kinh tế đi sau. Nhóm tác giả Noor, Halim, Clarke, Roger, Driffield và Nigel chỉ ra vai trò quan trọng của hỗ trợ từ phía chính phủ cho đổi mới và sáng tạo của các doanh nghiệp nội địa trong phát triển cung ứng cho ngành điện tử, trong: “Tập đoàn đa quốc gia và các nỗ lực công nghệ của doanh nghiệp địa phương: trường hợp nghiên cứu ngành công nghiệp điện và điện tử Malaysia” (Multinational cooperation and technological effort by local firm: a case study of the Malaysian Electronics and Electrical Industry) (2002). Khi tìm hiểu về vai trò của chính sách phát triển công nghiệp của các nƣớc Đông Á không thể không kể đến Báo cáo phát triển thế giới (World Development Report - 2004) do tác giả Zenaida Hernandez viết.
Giữa năm 1950 và 1995, tám nền kinh tế Đông Á đã có sự tăng trƣởng bất thƣờng. Các chuyên gia kinh tế đã có những tranh cãi xoay quanh câu hỏi về vai trò của chính phủ can thiệp ở Đông 8 z Á. Thu nhập bình quân đầu ngƣời của Nhật Bản tăng hơn mƣời lần trong thời gian đó, và tăng hơn gấp đôi so với Malaysia, Indonesia và Thái Lan sau hai thập kỷ đến năm 1973. Ngoài ra, tốc độ tăng trƣởng tƣơng đối bằng nhau phân phối, mang giảm nghèo tuyệt đối và cải thiện điều kiện sống.
Mặc dù trong những năm 1990 và năm 1997 cuộc khủng hoảng Đông Á diễn ra, kinh tế Nhật Bản và khu vực không tránh khỏi tình trạng trì trệ, nhƣng vẫn giữ đƣợc mức tăng trƣởng bền vững. Thêm vào đó, kinh tế Trung Quốc cất cánh ở trong hai thập kỷ qua đã đóng góp thêm vào sự thành công của khu vực. Chính từ những thực tế này, tác giả đã tìm câu trả lời cho câu hỏi: Điều gì đã làm nên sự tăng trưởng ở Đông Á? và các nước khác học gì được từ đây? Năm 2005, Công trình nghiên cứu Implementing industrial ecology? Planning for eco - industrial parks in the USA của D. Quan điểm cho rằng, mặc dù nhận đƣợc sự đồng thuận rộng rãi của vấn đề phát triển bền vững trong các diễn đàn quốc tế nhƣng trên thực tế, việc đạt mục tiêu về kịch bản “win - win - win” về các mặt phát triển kinh tế, môi trƣờng và xã hội vẫn là một vấn đề nan giải.
Những ngƣời ủng hộ phát triển về công nghiệp sinh thái cho rằng việc dịch chuyển trong chuỗi sản xuất công nghiệp từ một đƣờng thẳng đến hệ thống khép kín sẽ giúp đạt đƣợc mục tiêu trên. Những năm gần đây, các khái niệm vạch ra từ công nghiệp sinh thái đã đƣợc sử dụng để xây dựng các khu công nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, giảm rác thải và ô nhiễm, tạo việc làm và cải thiện điều kiện làm việc. Tác giả nhấn mạnh vào các vấn đề nan giải nảy sinh trong giai đoạn phát triển các khu công nghiệp ở Mỹ. Một ấn phẩm khác là Industrial Development In East Asia: A Comparative Look at Japan, Korea, Taiwan and Singapore (2009), đã có những đánh giá mô tả về chính sách công nghiệp trong bốn nền kinh tế Đông Á - Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore, trong đó trọng tâm đặc biệt về Singapore.
Ali Akkemik đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về chính sách công nghiệp ở Đông Á và đánh giá định lƣợng của các chính sách thông qua phân tích năng suất và mô hình CGE. Qua đó đánh giá vai trò tích cực của chính sách công nghiệp và các hoạt 9 z động của chính phủ trong cải thiện phúc lợi và phát triển công nghiệp. Đồng thời, cuốn sách còn đƣa ra một so sánh giữa chính sách phát triển công nghiệp của Singapore (khi áp dụng mô hình CGE cho nền kinh tế Singapore) với các nƣớc Đông Nam Á. Liên quan đến vai trò của ngành công nghiệp hỗ trợ nói riêng trong sự phát triển của công nghiệp nói chung, thì Viện Brookings của Hoa Kỳ cũng có một báo cáo với tiêu đề: America's Advance Industry.
"Công nghiệp hỗ trợ tạo ra cơ hội cho các ngành khác, và dẫn đầu phục hồi hậu khủng hoảng.