LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Với mục đích bảo vệ và chăm sóc sức khỏe mỗi cá nhân trong cộng đồng. pháp luật bảo hiểm y tế hiện giữ vai trò quan trong trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội quốc gia. qua quá trình phát triển không ngừng và đặc biệt là sự ra đời của Luật bảo hiểm y tế (BHYT) năm 2008 đã mở ra một bước phát triển vượt bậc của BHYT với mục tiêu BHYT toàn dân.
Có hiệu lực từ 1/7/2009, Luật BHYT với phạm vi đối tượng từng bước mở rộng, đảm bảo bao phủ toàn bộ dân chúng vào năm 2014. tham gia BHYT với những chính sách hỗ trợ của nhà nước như một cam kết cho việc đảm bảo quyên lợi về chăm sóc sức khỏe cho cộng đông dân chúng qua cơ chế chia sẻ rủi ro, tương trợ cộng đồng. Với những thành công đạt được như đối tượng tham gia không ngừng mở rong, cho đến 6/2011 đã có tới 53,5 triệu người tham gia, chiếm hơn 60% dân sé, mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh (KCB) rộng khắp, có 2.303 cơ sở KCB ký hợp đồng KCB cho người có thẻ BHYT, số trạm y tế xã thực hiện KCB BHYT là 8.656 trạm chiếm khoảng 80% tổng số trạm y tế xã trên cả nước, chất lượng KCB được nâng Cao,. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được pháp luật BHYT Việt Nam vẫn còn quá nhiều thách thức cho sự thành công của bảo hiểm y tế toàn dân với hệ thống tài chính bảo hiểm bền vững.
Qua hai năm thực hiện Luật BHYT, đường như con đường tiến tới bảo hiểm y tế toàn đân với tiêu hoàn thành vào 2014 tỏ ra còn nhiều nghỉ ngại. Phải chăng chúng ta chưa dự trù hết cho những biển động kinh tế bat lợi ảnh hưởng tới đời sống người dan, trình độ quản lý, khả năng tổ chức thực hiện và cả những bất cập trong quy định luật thực định. Kết quả đạt được sau 2 năm thực hiện BHYT Việt Nam đưa ra một thực tế: - Tỷ lệ tham gia BHYT chưa day đủ, tính tuân thủ pháp luật chưa cao ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu BHYT toàn dân vào năm 2014. Trong toàn bộ dân chúng có khoảng gần 40% dân số chưa tham gia BHYT mặc dù thời gian hoàn thành mục tiêu đang đến gần.
Trong số đối tượng chưa tham gia BHYT có cả đối " Báo cáo tổng kết hai năm thực hiện Luật BHYT - Bộ Y tế và BHXH Việt Nam ngày 17/10/2011. I tượng tham gia BHYT bắt buộc và đối tượng được ngân sách nhà nước hỗ trợ một phan mức đóng (người lao động trong các doanh nghiệp mới dat 53.1% số người cận nghèo). Đây là nhóm đối tượng vốn thuộc nhóm tham gia én định và chắc chăn. Đối với nhóm đối tượng hiện chưa thuộc phạm vi tham gia bắt buộc, tỷ lệ tham gia là rất thấp.
chỉ đạt trên 18% tổng số đối tượng”. Điều này khiến xuất hiện nhiều ý kiến nghi ngờ về sự thành công của BHYT toàn dân ở Việt Nam. - Chất lượng khám. chữa bệnh nhìn chung còn thấp.
chưa đáp ứng nhu cầu KCB của nhân dân nhất là ở tuyến y tế cơ sở và các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa. Hầu hết các các bệnh viện đều quá tải, nhất là ở các cơ sở tuyến tỉnh, tuyến trung ương và người dân chưa hài lòng vì thủ tục KCB. - Nguy cơ mat an toàn về tài chính BHYT xuất hiện mặc dù chúng ta đã khắc phục những hạn chế trước đây băng việc tăng phí đóng và thiết lập cơ chế củng chỉ trả theo thông lệ các quốc gia trên thế giới. Song những bat cập trong hướng dẫn, quản lý và phân bé tài chính, tự chủ tài chính cũng như tinh trạng lạm dụng, trục lợi thiết bị.
chi phí y tế vẫn là vấn đề nan giải cần nhanh chóng có giải pháp khắc phục. Theo BHXH Việt Nam, ngay từ quý 1/2010 đã có tới 14 tỉnh thành có đầu ra bội chỉ lên tới hơn 70 tỷ đồng, và cho đến hết quý 11/2011 tình trạng bội chi đã trở nên đặc biệt khi số các tỉnh thành bội chi tăng lên rất nhiều. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn của quỹ, vốn là nguyên tắc được ưu tiên đảm bảo. - Từ góc độ quản lý và điều tiết tài chính BHYT nhận thấy chúng ta chưa giải quyết được hài hòa mối quan hệ ba bên (cơ quan BHYT — người tham gia- cơ sở KCB) khiến quyền lợi người bệnh bị ảnh hưởng, lợi ích của các bên chưa được đảm bao.
Dieu này khiến thiếu cơ sở cho sự phát triển bền vững của hệ thống BHYT quốc gia. Đứng trước thực tế này, những giải pháp cấp thiết cho việc hoàn thiện pháp luật và đảm bảo tính khả thi hoàn thành mục tiêu của BHYT Việt Nam trở nên cấp thiết. Yêu cầu này hiện không chỉ còn là vấn đề của Nhà nước, của các nhà nghiên cứu và thực thi pháp luật mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng dân chúng, trở thành tim điểm có tính thời sự trên các diễn đàn an sinh xã hội Việt Nam hiện nay. ? Báo ca tông kết hai năm thực hiện Luật BHYT - Bộ Y tế và BHXH Việt Nam ngày 17/10/2011 2 Trên thé giới.
BHYT xuất hiện từ rat sớm vả ngày càng phát triên và ngày càng phát triển với những mô hình tô chức khác nhau. Đa số các nước phát triển đều chọn BHYT là một giải pháp quan trọng về tài chính y tế để thực hiện chăm sóc sức khoẻ công bằng và hiệu quả. pháp luật BHYT đều được các quốc gia coi trọng. Thực tế cho thấy.
với cùng một mục tiêu nhưng tô chức thực hiện BHYT ở các quốc gia khác nhau có sự khác nhau nhất định và vì vậy. có những ưu nhược điểm cũng như thành công và hạn chế khác nhau. tổn tại hai mô hình BHYT là (i) BHYT thực hiện bang tài chính công và (ii) BHYT thực hiện bang nguồn tài chính đóng góp. giải pháp và cũng là mục tiêu hướng tới của BHYTở tất cả các quốc gia, bat kế tổ chức thực hiện theo mô hình nào cũng là đảm bảo mọi người dân được tham gia và bảo vệ bởi hệ thống BHYT.
Chăng hạn ở Đức, nơi khởi nguồn cho mô hình BHXH nói chung và BHYT nói riêng với đặc điểm quốc gia đông dân nhất Châu Âu và số dân nhập cư chiếm tỷ lệ rất cao. nhưng cho đến nay, Đức vẫn được đánh giá là quốc gia có nền y tế tiến bộ bậc nhất thé BIỚI VỚI kinh phí đầu tư cho y tế khá cao. Nếu như những năm đầu ban hành Luật BHYT thì lượng người tham gia chỉ chiếm 5% dân số thì đến thập kỷ 70 của thể kỷ XX tỷ lệ này đã tăng lên 90% dân số. Hiện nay, BHYT có thể nói là phủ rộng 100% dân số, không phân biệt người già, trẻ em, trai gái, người gốc Đức hay người nhập cư.Hệ thống bảo hiểm công hay còn gọi là bảo hiểm bắt buộc là cơ sở vững chắc giúp Đức thực hiện thành công, nhanh chóng tiến trình BHYT toàn dân và giữ cho mô hình này ổn định léu dài đến vậy.
Nhờ đó, mặc dù mức thu nhập dân cư Đức không đồng đều nhưng dịch vụ y tế nói riêng và mức an sinh xã hội nói chung ở Đức rất cao và đã đáp ứng được những dịch vụ cần thiết. Tuy vậy, chi phí đầu tư lớn cho hệ thống an sinh xã hộ và đặc biệt là BHYT ở Đức cũng khiến Nhà nước phải đối mặt với gánh nặng tà chính. Gần đây Đức đang có cải cách mạnh mẽ về BHYT, những thành tựu và thách thức với nền BHYT Đức vẫn là một bài học kinh nghiệm kinh điển có tính chudn mực cho các quốc gia khác học hỏi. Các quéc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Thuy Điển.
cũng là những quốc gia có những nét tương đồng nhất định với Việt Nam hoặc là những điểm hình ch» cải cách BHYT với mục tiêu BHYT toàn dân. Có thể nói, hau hết các quốc gia đều phải đối mặt với những sức ép về BHYT như chưa bao quát hết cộng 3 đồng dân chúng trong mạng lưới bảo vệ BHYT. mất cân đối vẻ tài chính. nhu cau tăng cao về chất lượng dịch vụ y tế.
căn cứ vào đặc điểm của mình các quốc gia đều thực thi các giải pháp cải cách. tiêu biểu như cải cách nhanh chóng thực hiện BHYT toàn dân với hỗ trợ tài chính công của Thủ tướng Thaksin ở Thái Lan hay chương trình nâng cao chất lượng dịch vụ y tế BHYT với tài chính tư của Thủ tướng Lý Quang Diệu ở Singapore. Cải cách BHYT ở Việt Nam không chỉ là van dé riêng quốc gia mà còn nằm trong xu hướng cải cách chung của hau hết các quốc gia trên thế giới. tìm hiểu pháp luật BHYT một số quốc gia trên thế giới với những bài học kinh nghiệp có ý nghĩa cấp thiết trên phương diện lý luận và thực tiến nhằm góp phan khắc phục những hạn chế, dé xuất những giải pháp hướng tới mục tiêu hoàn thiện và phát triển hệ thống BHYT toàn dân ở Việt Nam.
Tình hình nghiên cứu đề tài Đề tài nghiên cứu về Bảo hiểm y tế ở Việt Nam cho đến nay đã có khá nhiều nhưng tập trung chủ yếu ở việc đánh giá thực trạng. đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật trong khuôn khổ phạm vi pháp luật quốc gia. Cho đến thời điểm hiện nay, theo khảo sát của chúng tôi chưa có dé tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống về pháp luật BHYT các quốc gia trên thế giới và rút ra những bài học bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Vé tình hình nghiên cứu cứu nội dung này, có thé kể đến một vài đề tài, luận án, luận văn bài viết tiêu biểu như: - Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam, Nguyễn Hiền Phương, Luận án Tiến sỹ luật học, 2009.
- Pháp luật An sinh xã hội Việt Nam - Một số vấn đề ly luận và thực tiễn, TS. Nguyễn Hiền Phương, Nxb. Tư pháp, 201 1 - Đề án Thực hiện lộ trình tiễn tới Bảo hiểm y té toàn dân giai đoạn 2012 - 2015 — 2020, Dé án cấp Nhà nước, Don vị chủ trì: Bộ Y tế phối hợp với các Bộ; - Kinh nghiệm thực hiện BHYT - Nhìn từ Nhật Bản — TS. Nguyễn Văn Tiên — Tap chí Bảo hiểm xã hội Việt Nam 3A/201 1.
- Đổi mới phương thức chỉ trả và phát triển bảo hiểm y tế toàn dân — Bài học từ Thai Lan - Ths. Sarah Bales — Tap chi Bao hiém x4 hội Việt Nam 2B/2011.