CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH TOC TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH KẾT CẤU SẢN PHẨM SẢN XUẤT TỐI ƯU 1.1 Tổng quan về lý thuyết nguồn lực bị giới hạn (Theory of Constraints - TOC) 1.1 Khái niệm về TOC TOC là một phương pháp quản trị sản xuất và hoạt động hiện đại được phát triển bởi Goldratt vào giữa những năm 1980. TOC bắt nguồn từ một chương hỗ trợ cho việc lập kế hoạch sản xuất tối ưu có tên là OPT (Lịch trình sản xuất tối ưu – Optimized Production Timetables, sau này được gọi với tên thương mại khác là Kỹ thuật sản xuất tối ưu - Optimized Production Technology). Để hỗ trợ cho hoạt động quảng bá hệ thống OPT, Goldratt đã minh họa các khái niệm của OPT thông qua nội dung của các tình huống sản xuất hàng ngày trong cuốn sách có tên là “The Goal” (Goldratt and Cox, 1984). Sau đó, các lý thuyết này được ông phát triển một cách đầy đủ hơn trong cuốn “The Race” (Goldratt and Fox, 1986) và dần chuyển hướng tập trung từ lĩnh vực sản xuất sang tất cả các lĩnh vực hoạt động khác của doanh nghiệp.
Theo đó, vào khoảng năm 1987, lý thuyết tổng quát được biết đến với tên gọi TOC (Lý thuyết các nguồn lực bị giới hạn – Theory of Constraints) đã ra đời. Lý thuyết này được Goldratt xem như một lý thuyết tổng quát để điều hành doanh nghiệp (Rahman, 1998). Khái niệm về TOC được Goldratt nêu như sau: “TOC là lý thuyết tối ưu hóa hiệu quả hoạt động, được dựa trên một cơ sở là mọi tổ chức đều phải có ít nhất một nguồn lực bị giới hạn. Nếu điều này không đúng thì với vai trò là một tổ chức tạo ra lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ gia tăng công suất hoạt động để tạo thêm lợi nhuận cho đến khi không thể tăng thêm được nữa.
Do đó, nguồn lực bị giới hạn là bất cứ thứ gì cản trở doanh nghiệp đạt được kết quả hoạt động cao hơn so với mục tiêu của mình.453) Theo Goldratt, sự tồn tại của nguồn lực bị giới hạn cho thấy cơ hội của sự cải tiến. Trái ngược với cách nghĩ thông thường, TOC xem các nguồn lực bị giới hạn là điều tích LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 cực thay vì tiêu cực. Bởi vì nguồn lực bị giới hạn xác định khả năng hoạt động của doanh nghiệp, gia tăng nguồn lực bị giới hạn sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện toàn bộ hoạt động của mình (Rahman, 1998). TOC giúp các nhà quản trị điều hành hoạt động của doanh nghiệp một cách hiệu quả bằng cách tập trung mọi nỗ lực vào quá trình cải thiện hiệu quả sử dụng của các nguồn lực bị giới hạn thông qua đơn vị đo lường chủ yếu là thông lượng (throughput) trên một đơn vị nguồn lực bị giới hạn sử dụng (Balakrishnan, 2003).
Việc xác định các nguồn lực bị giới hạn theo lý thuyết TOC là việc làm trực quan và cụ thể đối với một tổ chức. Theo đó, tổ chức sẽ sử dụng năng lực nội tại để thực hiện các phương pháp xác định các nguồn lực bị giới hạn, cách thức để giải quyết chúng và trên cơ sở đó để tiến hành cải tiến liên tục.2 Khái niệm về thông lượng (throughput) Thông lượng (throughput) là một thuật ngữ được Goldratt đưa ra bắt đầu từ cuốn tiểu thuyết The Goal và được phát triển, phổ biến một cách rộng rãi trong suốt 10 năm sau đó thông qua một chuỗi các cuốn sách và các hoạt động của Học viện Avharam Y. Goldratt được sáng lập vào giữa những năm 1980. Theo Goldratt, thông lượng (throughput) là khoản tiền hệ thống tạo ra thông qua doanh số, được tính toán bằng cách lấy giá bán trừ chi phí nguyên vật liệu (Goldratt và Cox, 1993, tr.
Có thể thấy rằng, khái niệm thông lượng trong lý thuyết TOC khá giống với khái niệm số dư đảm phí trong kế toán quản trị truyền thống, sự khác biệt cơ bản là ở cách xem xét chi phí nhân công trực tiếp. Trong kế toán quản trị truyền thống, số dư đảm phí được tính bằng cách lấy giá bán trừ biến phí, biến phí này bao gồm cả chi phí nguyên vật liệu và chi phí nhân công trực tiếp theo sản phẩm, nhưng theo quan điểm của TOC, chi phí nhân công được xem là định phí và được phân loại là chi phí hoạt động. Lý do cho vấn đề này là bởi theo Goldratt các quyết định sản xuất được đưa ra rất ít khi dẫn đến việc sa thải hay giảm bớt công nhân mà chỉ đơn giản là bố trí lại lao động để tăng cường tính hiệu quả cho hoạt động sản xuất. Goldratt cho rằng kế toán chi phí truyền thống bị “ám ảnh” quá nhiều bởi quan điểm về chi phí và luôn cố gắng chạy theo việc hạ chỉ tiêu chi phí đơn vị sản phẩm dẫn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 đến xu hướng sản xuất sản phẩm với số lượng lớn vượt quá khả năng có thể bán vì thế làm gia tăng chi phí hàng tồn kho và những chi phí hoạt động khác.
Ngược lại với điều này, quan điểm JIT tập trung vào việc giảm lượng hàng tồn kho, giảm thời gian sản xuất và cải thiện khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng. Tuy nhiên, theo ông, việc giảm hàng tồn kho và chi phí chỉ có thể thực hiện đến một mức nào đó còn thông lượng (throughput) thì có thể gia tăng không giới hạn (Dugdale, 1996). Do vậy, ông đã đề xuất một sự thay đổi hoàn toàn mới về sự ưu tiên trong chính sách quản lý so với phương pháp quản trị truyền thống. Phương pháp quản trị truyền thống cho rằng ưu tiên hàng đầu trong các chính sách quản lý là cắt giảm chi phí, thứ đến là gia tăng thông lượng và cuối cùng là giảm hàng tồn kho nhưng theo Goldratt các chính sách quản lý hướng đến sự gia tăng thông lượng cần được ưu tiên trước hết, tiếp theo là giảm hàng tồn kho và cuối cùng mới là cắt giảm chi phí.
Điều này đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong quan điểm quản lý của các nhà quản trị. Triết lý TOC hướng các nhà quản lý gia tăng thông lượng bằng cách tối đa hóa sản lượng đầu ra trên một đơn vị nguồn lực giới hạn sử dụng, JIT thì khuyến khích sản xuất theo kích cỡ lô nhỏ để cải thiện khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng và do vậy góp phần gia tăng thông lượng, còn TQM đề cao chất lượng sản phẩm và sự hài lòng của khách hàng do đó cũng dẫn đến việc cải thiện thông lượng. Theo quan điểm TOC, kết quả hoạt động của toàn hệ thống được xác định bởi thông lượng trên những nguồn lực bị giới hạn sử dụng, do đó các nhà quản trị cần tập trung vào việc cải thiện hiệu quả hoạt động của những nguồn lực này. Việc cải thiện hiệu quả hoạt động của tất cả các nguồn lực là không khả thi vì điều này sẽ không giúp làm gia tăng tổng thông lượng của hệ thống.
Tuy nhiên, các thước đo “tính hiệu quả” và “mức độ hữu dụng” được sử dụng trong kế toán chi phí truyền thống đã che khuất mục tiêu của tổ chức ở mức độ tổng thể và dẫn các nhà quản trị đến việc chỉ tập trung vào kết quả hoạt động của từng bộ phận mà làm phương hại đến thông lượng của toàn hệ thống. Do đó, kế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 21 toán chi phí được xem là kẻ thù số một của hiệu quả sản xuất. Từ lý do này, Goldratt đã kêu gọi loại bỏ kế toán chi phí truyền thống để xóa bỏ các mặt tiêu cực của nó và đề xuất sự phát triển một hệ thống kế toán mới theo quan điểm hướng đến thông lượng.3 Nhóm nguồn lực bị giới hạn trong doanh nghiệp Các nguồn lực bị giới hạn trong doanh nghiệp có thể phân chia thành hai nhóm: nhóm các nguồn lực bị giới hạn hữu hình và nhóm các nguồn lực bị giới hạn liên quan đến hoạt động quản lý.1 Nhóm nguồn lực bị giới hạn hữu hình Nhóm này thường là những nguồn lực bị giới hạn nằm bên trong doanh nghiệp, bao gồm những nguồn lực bị thiếu hụt liên quan đến những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như: nguồn nguyên vật liệu, nguồn nhân lực, công suất máy móc thiết bị. Nguyên vật liệu bị giới hạn có thể là do mức cung trên thị trường thấp, doanh nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu, mối quan hệ với nhà cung cấp không được tốt nên hay bị giao hàng trễ hạn và không đúng chất lượng yêu cầu.
Nguyên vật liệu bị thiếu hụt gây ra sự ngưng trệ đối với quá trình sản xuất của doanh nghiệp nhưng trong thời gian bị ngưng trệ doanh nghiệp vẫn phải trả lương cho công nhân, vẫn phải trả tiền thuê mặt bằng, vẫn phải khấu hao nhà xưởng, máy móc thiết bị… Vì thế, các nguồn lực như nhân công, máy móc thiết bị, vốn không được tận dụng hết để tham gia vào hoạt động sản xuất, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nguồn nhân lực bị giới hạn có thể là do doanh nghiệp không kịp hoặc không thể tuyển dụng đủ số lao động cần thiết hoặc lao động thiếu kinh nghiệm, chưa được đào tạo đầy đủ. Điều này đã cản trở việc tận dụng tối đa công suất của các loại máy móc, thiết bị hiện có. Giới hạn về máy móc thiết bị liên quan đến một số lượng máy móc thiết bị bị thiếu hụt gây cản trở hoạt động sản xuất của một công đoạn nào đó trong quá trình sản xuất sản phẩm hoặc cản trở việc tăng thêm sản phẩm sản xuất.
Cũng có thể máy móc, thiết bị quá cũ kỹ, lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của sản phẩm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 22 Ngoài ra, nguồn lực bị giới hạn hữu hình cũng có thể liên quan đến những yếu tố đầu ra của doanh nghiệp do những hạn chế về tổ chức bán hàng như thiếu nhân viên bán hàng, thiếu phương tiện vận chuyển hàng đi bán, thiếu mặt bằng, thiếu chỗ gửi xe cho khách hàng ở các cửa hàng… 1.2 Nhóm nguồn lực bị giới hạn liên quan đến hoạt động quản lý Nhóm nguồn lực bị giới hạn liên quan đến hoạt động quản lý thường là những giới hạn về chính sách bao gồm cả những chính sách thuộc bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Giới hạn về chính sách liên quan đến những quy định, thủ tục, luật lệ và phương pháp của công ty, của ngành hay của Chính phủ có sự ràng buộc đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.