Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tế Chương 2: Khảo sát và định hướng khai thác giá trị thẩm mỹ thơ Xuân Quỳnh trong chương trình Trung học phổ thông qua bài Sóng. Chương 3: Đề xuất phương pháp, thiết kế giáo án thực nghiệm 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ 1. Cơ sở Ngôn ngữ - Văn học Là một vấn đề có tính liên ngành, những năm gần đây, việc nghiên cứu tín hiệu thẩm mỹ được nhiều nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành khác nhau của khoa học về nghệ thuật ngôn từ quan tâm. Trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, chúng tôi trình bày tóm tắt các quan điểm về tín hiệu thẩm mỹ để làm cơ sở cho việc khảo sát của luận văn.
Tín hiệu Điều kiện đầu tiên đảm bảo cho sự tồn tại khái niệm tín hiệu thẩm mỹ là những điều kiện tín hiệu học. “Tín hiệu là những dấu hiệu có thuộc tính vật chất có khả năng kích thích vào giác quan con người, làm con người cảm nhận được và liên tưởng đến một điều gì đó” [19; tr270] Pier Guiraud cho rằng “ một tín hiệu….là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác” [Dẫn theo Đỗ Hữu Châu 7; tr51]. Theo cách hiểu này, mọi hình thức vật chất không phân biệt tự nhiên hay nhân tạo, có chức năng giao tiếp hay không…đều được coi là tín hiệu, nếu nó gợi ra trong kí ức con người một hình ảnh nào đó. Các nhà nghiên cứu về lý thuyết thông tin gọi đó là yếu tố mang tin, còn các nhà nghiên cứu ngữ nghĩa học gọi đó là những yếu tố mang nghĩa.
Nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu cũng chỉ ra những điều kiện cần cho một sự vật (hay thuộc tính vật chất, hiện tượng) trở thành tín hiệu. Thứ nhất, nó phải được cảm nhận bới các cảm giác (phải có một hình thức cảm tính – cái biểu hiện). Thứ hai, nó phải gợi ra, đại diện cho cái gì đó khác với chính nó (phải có một “ý nghĩa” – cái được biểu hiện). Thứ ba, nó phải được thừa nhận, lĩnh hội bởi một chủ thể và cuối cùng, nó phải được nằm trong một hệ thống nhất định [6; tr52 – 53].
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tín hiệu rất phong phú, đa dạng nên các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều cách phân loại khác nhau dựa vào tiêu chí khác nhau. Peirce chia các tín hiệu thành 10 loại lớn, mỗi loại chia thành nhiều loại nhỏ trong đó quy về 3 loại chính: biểu trưng (symboles), hình hiệu (icones) và dấu hiệu (indices). Morris lại chia thành hai loại: chỉ hiệu (signe index) và định hiệu (signes caracterisant) dựa vào quan hệ giữa tín hiệu và các loại sự vật mà nó biểu thị.Schaff do chỉ xem tín hiệu là những yếu tố có chức năng giao tiếp nên đã phân ra hai loại lớn: tín hiệu tự nhiên và tín hiệu nhân tạo. Guiraud có sự phân biệt tín hiệu tự nhiên với tín hiệu nhân tạo, tín hiệu biểu hiện và tín hiệu giao tiếp nhưng ông không tách tín hiệu giao tiếp với tín hiệu tự nhiên mà đặt chúng trong mối quan hệ giữa thực tế với nhận thức của con người, từ đó nhận ra những khả năng khác nhau của các tín hiệu khi đặt chúng vào các mối quan hệ khác nhau.
Lấy bảng phân loại tín hiệu của P.Guiraud làm trục chính, trên cơ sở bổ sung thêm kết quả phân loại của các tác giả khác, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra kết quả phân loại như sau: Căn cứ vào nguồn gốc để chia thành tín hiệu tự nhiên và tín hiệu nhân tạo; căn cứ vào đặc tính của cái biểu đạt có thể phân loại thành tín hiệu thị giác, tín hiệu vị giác; căn cứ vào quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt có thể quy thành các loại: dấu hiệu, hình hiệu và ước hiệu; căn cứ vào chức năng xã hội, có thể chia thành các tín hiệu giao tiếp và phi giao tiếp [6; tr62 – 64]. Tín hiệu ngôn ngữ Trong công trình nghiên cứu Ngôn ngữ và văn học, hai tác giả Đỗ Việt Hùng và Nguyễn Thị Ngân Hoa đã khảo sát một cách có hệ thống tín hiệu ngôn ngữ và chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật. Từ đó lưu ý đến việc khai thác các tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật với tư cách là phương tiện quan trọng bậc nhất của văn chương. Theo hai tác giả, ngôn ngữ có bản chất tín hiệu.
Tính chất tín hiệu của ngôn ngữ, trước hết được thể hiện ở tính hai mặt của nó: mặt biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ là âm thanh nghe được, còn mặt được biểu đạt là ý nghĩa, khái 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm về sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất…mà âm thanh đó gọi tên [19; tr5]. Tuy nhiên, so với các tín hiệu khác, mối quan hệ giữa hai mặt của ngôn ngữ đa dạng, phức tạp hơn nhiều. Chẳng hạn, lấy từ làm đơn vị trung tâm của ngôn ngữ thì trong mỗi trường hợp sử dụng, ngoài nghĩa vốn có, nó có thể biểu thị cho những đối tượng khác nhau. Mối quan hệ giữa hai mặt của tín hiệu nói chung và tín hiệu ngôn ngữ nói riêng là mối quan hệ võ đoán, tức tính không có lý do.
Song, trong ngôn ngữ, có những trường hợp mà giữa mặt biểu đạt và mặt được biểu đạt có tính lý do. Tính có lý do thể hiện rõ ở những trường hợp biểu vật theo lối miêu tả. Theo Đỗ Hữu Châu thì “ biểu vật theo lối miêu tả là biểu vật theo lối phân tích. Ở đây, nhận thức về đặc điểm đi trước nhận thức về sự vật” [5; tr98].
Và “đây chính là một trong những phương tiện được khai thác khá triệt để trong các tác phẩm văn học” [19; tr7]. Tín hiệu ngôn ngữ còn có tính đa trị. Đây là điểm khác biệt giữa tín hiệu ngôn ngữ và các tín hiệu thông thường khác. Tính đa trị của tín hiệu ngôn ngữ thể hiện ở: một tín hiệu ngôn ngữ biểu thị nhiều nội dung khác nhau (trường hợp các từ đồng âm, từ nhiều nghĩa); nhiều tín hiệu ngôn ngữ biểu thị một nội dung (trường hợp các từ đồng nghĩa); nội dung của mỗi tín hiệu ngôn ngữ, ngoài phần hiện thực khách quan, còn có thể gợi ra những tình cảm, cảm xúc, thái độ, cách đánh giá…đối với sự vật hiện tượng được nói tới (nghĩa biểu cảm, biểu thái).
Tín hiệu ngôn ngữ có tính hình tuyến, tức là các đơn vị ngôn ngữ bị giới hạn trong một trật tự thời gian. Điều này giúp cho các nhà nghiên cứu nhận diện được các đơn vị ngôn ngữ, các quy tắc cấu tạo từ, đặt câu, dựng đoạn và tạo lập văn bản, có tác dụng tạo nghĩa lớn mà “ nếu không chú ý đến mối quan hệ này của các đơn vị ngôn ngữ, quá trình giải mã các tác phẩm văn học sẽ không đến được cái đích cần đến” [19; tr9]. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tín hiệu thẩm mỹ * Khái niệm Từ góc độ thông tin – tín hiệu học, có người xem tác phẩm nghệ thuật như một loại thông điệp đặc biệt chứa đựng trong nó “những nhận thức thẩm mỹ về hiện thực, đồng thời chứa đựng những sức mạnh tinh thần tham gia vào sự chiếm hữu hiện thực về mặt thẩm mỹ.
Những sức mạnh này được hiểu như là những phương tiện nghệ thuật được sử dụng vào mục đích thẩm mỹ” [ 31; tr17]. Tín hiệu thẩm mỹ là những phương tiện nghệ thuật được sử dụng vào mục đích thẩm mỹ, “thực hiện chức năng thẩm mỹ: xây dựng hình tượng tác phẩm nghệ thuật” [19; tr270]. Trong nhiều đề tài nghiên cứu về tín hiệu thẩm mỹ, các tác giả đều thống nhất ở chỗ coi tín hiệu thẩm mỹ là yếu tố thuộc phương tiện biểu hiện của nghệ thuật, chúng phải có ý nghĩa thẩm mỹ, phục vụ cho mục đích thẩm mỹ của tác giả và khơi dậy tình cảm thẩm mỹ của người đọc. Trên cơ sở tiếp thu lý thuyết của các tác giả, chúng tôi thống nhất cách hiểu về tín hiệu thẩm mỹ như sau “ Tín hiệu thẩm mỹ là tín hiệu thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của các ngành nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực, của tâm trạng (những chi tiết, nhưng sự việc, hiện tượng, những cảm xúc…thuộc đời sống hiện thực và tâm trạng), những yếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ với văn học; các yếu tố của chất liệu màu sắc với hôi họa; âm thanh, nhịp điệu, tiết tấu với âm nhạc….) được lựa chọn và sáng tạo trong các tác phẩm nghệ thuật vì mục đích thẩm mỹ” [Dẫn theo 41; tr11].
* Nguồn gốc Trong thực tế khách quan, mọi sự vật, đối tượng, thực thể đều trở thành tín hiệu nếu hình thức biểu hiện của nó chứa đựng một nội dung thông tin nhất định. Khi những tín hiệu đầu tiên đi vào trong tư duy và giao tiếp con người, mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là mối quan hệ có tính lý do. Sau đó, trong quá trình thay đổi của những biểu hiện cảm tính và nội dung ý nghĩa trong những biểu hiện cảm tính đó, ta có tín hiệu mang tính 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sự tổ chức lại các tín hiệu tự nhiên thành các tín hiệu thẩm mỹ để nâng cấp hoạt động nhận thức và biểu hiện thế giới trong đời sống tinh thần của con người là bước tiến quan trọng nhất của tư duy con người, biểu hiện sự kiết hợp giữa tư duy lý tính và tư duy biểu tượng “ Con người khác xa con vật ở chỗ không chỉ nhận biết ý nghĩa mối liên hệ của các sự vật riêng biệt mà luôn cố gắng sáng tạo, phủ định, điều chỉnh lại sự diễn đạt bằng biểu tượng” [Dẫn theo 19; tr62 – 63].
Như vậy, biểu tượng là dạng nguyên thủy nhất, là nguồn gốc phát sinh các tín hiệu thẩm mỹ mang tính truyền thống của các ngành nghệ thuật. Những tín hiệu này có nguồn gốc từ hiện thực, từ mẫu gốc của một nền văn hóa. Ví dụ, “cau – trầu” là một cặp tín hiệu có nguồn gốc từ văn hóa dân gian Việt Nam, vào thơ Nguyễn Bính như một ẩn dụ về khát vọng hạnh phúc trăm năm: Nhà em có một giàn giầu Nhà anh có một hàng cau liên phòng Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?