Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản phương pháp giáo dục, trong đó quy định khoảng 35% thời lượng môn Toán ở cấp tiểu học dành cho các hoạt động thực hành và trải nghiệm. Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy học mạch kiến thức Số thập phân và các phép tính với số thập phân lớp 5, chỉ có 26,7% giáo viên thực hiện thường xuyên việc lồng ghép tình huống đời sống vào bài học. Tình trạng học sinh ghi nhớ máy móc các quy tắc cộng, trừ, nhân, chia nhưng lúng túng khi xử lý các vấn đề thực tiễn như tính toán chi phí sinh hoạt hay đo đạc kích thước vẫn diễn ra phổ biến tại nhiều cơ sở giáo dục.

Nghiên cứu được triển khai nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu đổi mới phát triển năng lực và thực trạng dạy học truyền thống. Mục tiêu trọng tâm là xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm vận dụng Lý thuyết Giáo dục Toán học thực tế (Realistic Mathematics Education - RME), giúp học sinh lớp 5 chiếm lĩnh tri thức số thập phân một cách chủ động và có ý nghĩa. Nghiên cứu thực hiện khảo sát thực trạng và thực nghiệm tại 5 trường tiểu học thuộc huyện Hiệp Hòa trong năm học 2024 - 2025. Kết quả thực nghiệm khẳng định phương pháp mới tạo ra bước chuyển biến tích cực, giúp nâng mức độ hứng thú học tập của học sinh lên trên 85%, đồng thời cải thiện chất lượng học tập với tỷ lệ học sinh đạt điểm giỏi tăng hơn 20% so với phương pháp dạy học truyền thống.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng Lý thuyết Giáo dục Toán học thực tế do Viện Freudenthal khởi xướng với các công trình tiêu biểu của Hans Freudenthal (1991), Van den Heuvel-Panhuizen (2003) và Gravemeijer (1994). RME coi toán học là một hoạt động thực hành sáng tạo của con người, trong đó học sinh phải được trải nghiệm quá trình tái phát minh tri thức thông qua 5 nguyên tắc cốt lõi: sử dụng ngữ cảnh thực tế, sử dụng mô hình, khai thác sản phẩm tự kiến tạo của người học, tăng cường tương tác xã hội và lồng ghép kiến thức liên môn.

Song song với RME, đề tài tích hợp lý thuyết mô hình hóa toán học của Werner Blum (1992) và Mogens Niss (2007). Hệ thống lý thuyết này vận hành dựa trên 3 khái niệm trung tâm:

  • Toán học hóa ngang: Quá trình chuyển hóa một tình huống thực tiễn đời sống thành mô hình toán học ban đầu.
  • Toán học hóa dọc: Quá trình xử lý, khái quát hóa và vận hành thuật toán ngay trong nội bộ hệ thống ký hiệu toán học.
  • Chuyển đổi mô hình: Sự dịch chuyển nhận thức từ mô hình của tình huống cụ thể sang mô hình cho nhiều tình huống toán học trừu tượng khác nhau.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập nguồn dữ liệu thông qua khảo sát thực trạng và tổ chức thực nghiệm sư phạm trong khung thời gian từ tháng 9/2024 đến tháng 4/2025. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 30 giáo viên tiểu học giảng dạy khối lớp 5 và 136 học sinh tại hai địa bàn thực nghiệm thuộc huyện Hiệp Hòa.

Phương pháp chọn mẫu: Đề tài áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện. 30 giáo viên được chọn từ 5 trường tiểu học đại diện cho các điều kiện dạy học khác nhau gồm Tiểu học Hoàng An (6 giáo viên), Tiểu học Hoàng Vân (7 giáo viên), Tiểu học Hoàng Lương (7 giáo viên), Tiểu học Thanh Vân (5 giáo viên) và Tiểu học Ngọc Sơn (5 giáo viên). Đối với thực nghiệm sư phạm, 136 học sinh được chia thành nhóm thực nghiệm gồm 68 học sinh thuộc lớp 5C trường Hoàng An và lớp 5A trường Hoàng Lương; nhóm đối chứng gồm 68 học sinh thuộc lớp 5D trường Hoàng An và lớp 5B trường Hoàng Lương với năng lực học tập ban đầu tương đương.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Tác giả kết hợp phương pháp phân tích định tính và thống kê toán học định lượng. Việc sử dụng phân tích định lượng (tính toán tỷ lệ phần trăm, điểm số trung bình cộng, phương sai và độ lệch chuẩn) giúp đo lường chính xác, khách quan mức độ tiến bộ của học sinh giữa trước và sau tác động. Phân tích định tính qua phiếu anket và quan sát dự giờ sư phạm giúp nhận diện chính xác những khó khăn tâm lý, sư phạm của giáo viên, đảm bảo tính khả thi cao của các giải pháp đề xuất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng và phân tích thực nghiệm mang lại 3 phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, tồn tại khoảng cách lớn giữa nhận thức và mức độ thực thi của giáo viên. Mặc dù có tới 63,3% giáo viên khẳng định việc gắn kết thực tiễn là rất cần thiết và 33,3% đánh giá cần thiết, nhưng chỉ có 26,7% duy trì thực hiện thường xuyên. Đáng chú ý, 20% giáo viên hiếm khi đưa yếu tố đời sống vào bài học. Rào cản lớn nhất là 66,6% giáo viên gặp khó khăn khi tự thiết kế hoạt động trải nghiệm và 60% lúng túng trong việc tạo tình huống mở đầu bài học.

Thứ hai, mức độ phủ của các bài toán thực tiễn trong sách giáo khoa hiện hành còn hạn chế. Phân tích cấu trúc chương trình lớp 5 cho thấy, bộ sách Cánh diều chỉ có 51 bài tập thực tiễn trên tổng số 131 bài, chiếm tỷ lệ 38,9%. Con số này ở bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống là 32 bài trên 93 bài, đạt tỷ lệ 34,4%. Đa số các bài tập còn nặng về rèn luyện kỹ thuật tính toán thuần túy.

Thứ ba, kết quả thực nghiệm sư phạm ghi nhận sự bứt phá vượt bậc về năng lực học sinh. Sau quá trình can thiệp, tỷ lệ học sinh đạt điểm giỏi ở nhóm thực nghiệm đạt 44,1%, tăng 22,4% so với trước thực nghiệm. Trong khi đó, nhóm đối chứng chỉ tăng 6,8% ở mức điểm giỏi. Tỷ lệ học sinh yếu kém ở nhóm thực nghiệm giảm sâu xuống mức 1,5%, thấp hơn rõ rệt so với tỷ lệ 7,4% ở nhóm đối chứng.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội của nhóm thực nghiệm bắt nguồn từ việc học sinh được tự mình trải nghiệm quá trình toán học hóa thông qua các dự án học tập thiết thực như đo đạc chỉ số khối cơ thể (BMI) hay đóng vai kiến trúc sư thiết kế không gian lớp học. Khi bài toán xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, học sinh không còn cảm thấy số thập phân là những con số trừu tượng khô khan. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công trình của Van den Heuvel-Panhuizen và nghiên cứu của Nguyễn Thanh Thủy, khẳng định RME giúp gia tăng động lực nội tại và củng cố trí nhớ dài hạn.

Toàn bộ dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua hệ thống bảng biểu và đồ thị. Cụ thể, kết quả kiểm tra định lượng có thể được trình bày bằng bảng đối chiếu tần số điểm số giữa hai nhóm học sinh trước và sau can thiệp. Đồng thời, việc sử dụng biểu đồ cột đôi biểu diễn phân bố điểm số và biểu đồ đường thể hiện sự chuyển dịch tỷ lệ học sinh đạt chuẩn kỹ năng tính toán sẽ làm nổi bật sự phân hóa rõ nét giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nhân rộng hiệu quả của mô hình RME, tác giả đề xuất 4 giải pháp cụ thể:

  • Thiết kế ngân hàng tình huống thực tiễn mở đầu cho 100% tiết dạy lý thuyết mới: Giáo viên bộ môn phối hợp cùng tổ chuyên môn khối 5 xây dựng các bài toán ngắn gọn gắn với giá cả thị trường, dự báo thời tiết hoặc số đo đồ dùng học tập. Mục tiêu là thu hút sự chú ý của học sinh ngay trong 5 phút đầu giờ, hoàn thành triển khai trong học kỳ 1 năm học 2025 - 2026.
  • Tổ chức tối thiểu 2 chuyên đề trải nghiệm thực tế mỗi học kỳ: Ban giám hiệu các trường tiểu học phê duyệt kế hoạch triển khai các chủ đề như Em tập làm thợ may hay Khám phá chỉ số BMI. Thời gian thực hiện định kỳ vào tháng 11 và tháng 3 hàng năm, giúp 100% học sinh được trực tiếp thao tác đo đạc và tính toán trên số liệu đời sống.
  • Xây dựng hệ thống bài tập thực tiễn phân hóa theo 3 cấp độ nhận thức: Giáo viên chủ động biên soạn tài liệu bổ trợ, nâng tỷ lệ bài tập ứng dụng đời sống trong mỗi chủ đề lên mức tối thiểu 50%. Thời gian thực hiện xuyên suốt năm học 2025 - 2026, hướng tới mục tiêu 85% học sinh giải quyết thành thạo các bài toán đo lường và giao dịch thương mại cơ bản.
  • Tổ chức định kỳ 2 đợt tập huấn chuyên sâu về phương pháp RME: Phòng Giáo dục và Đào tạo chủ trì mời chuyên gia bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi bài toán thuần túy sang tình huống thực tiễn. Đợt tập huấn diễn ra vào tháng 8 đầu năm học và tháng 1 giữa năm học, đảm bảo 100% giáo viên khối 5 nắm vững quy trình toán học hóa ngang và dọc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tư liệu chuyên môn hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Giáo viên tiểu học trực tiếp giảng dạy khối lớp 5: Cung cấp trực tiếp các kịch bản bài dạy, bài toán mẫu về đo đạc, mua sắm và quy trình 4 bước thiết kế hoạt động trải nghiệm thực tế để áp dụng ngay vào giảng dạy.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn và tổ trưởng chuyên môn tiểu học: Định hướng xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường, thiết lập tiêu chí đánh giá tiết dạy toán theo định hướng phát triển năng lực và đổi mới sinh hoạt chuyên môn.
  • Giảng viên và sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học tại các trường đại học sư phạm: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật về mô hình RME, cung cấp dữ liệu thực nghiệm sinh động tại 5 trường tiểu học để phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
  • Các tác giả và chuyên gia biên soạn sách giáo khoa môn Toán: Cung cấp căn cứ thực tiễn về khoảng trống bài tập ứng dụng trong các bộ sách hiện hành (chỉ chiếm 34,4% đến 38,9%), hỗ trợ định hướng gia tăng tỷ lệ nhiệm vụ thực tiễn trong các lần biên soạn, chỉnh lý tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

Dạy học toán gắn với thực tiễn có làm giảm thời gian rèn luyện kỹ năng tính toán của học sinh không? Phương pháp RME không làm giảm thời gian mà tối ưu hóa chất lượng rèn luyện. Thay vì thực hiện hàng chục phép tính rời rạc, học sinh được thực hành tính toán thông qua giải quyết tình huống đo đạc thực tế, từ đó ghi nhớ quy tắc tính nhanh hơn và giảm 15% lỗi sai vị trí dấu phẩy.

Làm thế nào để giáo viên khắc phục khó khăn khi tự thiết kế các tình huống thực tiễn? Thầy cô nên tận dụng dữ liệu từ đời sống học đường như chiều cao, cân nặng, chi phí mua đồ dùng học tập hoặc hóa đơn thư viện. Hơn 60% giáo viên tham gia khảo sát đã cải thiện năng lực thiết kế sau khi tham gia các buổi sinh hoạt chuyên môn theo nhóm.

Phương pháp RME có đòi hỏi điều kiện cơ sở vật chất phức tạp không? Phương pháp này hoàn toàn linh hoạt và không đòi hỏi thiết bị đắt tiền. Khảo sát chỉ ra 93,3% giáo viên nhận định cơ sở vật chất hiện tại ở các trường tiểu học nông thôn như thước dây, cân sức khỏe và hộp bút đều đáp ứng tốt các hoạt động trải nghiệm.

Tại sao tỷ lệ bài tập thực tiễn trong sách giáo khoa hiện nay mới chỉ đạt dưới 40%? Chương trình mới đang trong giai đoạn tiếp cận và sách giáo khoa cần cân đối giữa việc trang bị kiến thức nền tảng và bài tập ứng dụng. Luận văn đã cung cấp thêm 15 tình huống bổ trợ nhằm hỗ trợ giáo viên chủ động lấp đầy khoảng trống dữ liệu thực tiễn.

Hoạt động đo đạc và tính toán chỉ số BMI bằng số thập phân mang lại lợi ích gì cho học sinh? Hoạt động này giúp học sinh vận dụng trực tiếp phép nhân và phép chia số thập phân vào thực tế với dụng cụ đo có độ chính xác 0,1 kg. Qua đó, học sinh không chỉ nắm chắc kiến thức toán học mà còn phát triển ý thức tự theo dõi và chăm sóc sức khỏe bản thân.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận của mô hình Giáo dục Toán học thực tế (RME) và khẳng định tính tương thích cao với định hướng Chương trình GDPT 2018.
  • Đánh giá khách quan thực trạng giảng dạy tại 5 trường tiểu học, chỉ ra khoảng cách giữa nhận thức và năng lực thiết kế thực tế của 30 giáo viên tiểu học.
  • Đề xuất thành công hệ thống 4 biện pháp sư phạm đồng bộ, từ khởi động bài học đến tổ chức dự án học tập đa dạng gắn với đời sống học sinh.
  • Chứng minh tính hiệu quả vượt trội qua thực nghiệm sư phạm trên 136 học sinh, nâng tỷ lệ học sinh đạt điểm giỏi thêm 22,4% ở nhóm can thiệp.
  • Cung cấp bộ công cụ bài tập và quy trình tổ chức mang tính ứng dụng cao, dễ dàng chuyển giao cho các cơ sở giáo dục tiểu học trên toàn quốc.

Trong giai đoạn năm học 2026 - 2027, nghiên cứu định hướng tiếp tục mở rộng mô hình RME sang các mạch kiến thức hình học và đo lường ở các khối lớp khác. Các nhà quản lý giáo dục và thầy cô giáo hãy chủ động áp dụng những giải pháp từ luận văn để biến mỗi giờ học toán thành hành trình khám phá cuộc sống đầy hào hứng và ý nghĩa.