Luận văn làng bản của các tộc người Tày, Nùng ở huyện Quảng Hòa, Cao Bằng trước năm 1945

Luận văn nghiên cứu làng bản của các tộc người Tày, Nùng ở huyện Quảng Hòa, Cao Bằng trước năm 1945 trên các phương diện kinh tế, văn hóa và xã hội.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Tác giả

Phí Văn Nhất

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2025

154
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan làng bản tộc người Tày Nùng ở huyện Quảng Hòa Cao Bằng

Huyện Quảng Hòa nằm ở phía đông tỉnh Cao Bằng. Vùng đất này sở hữu địa hình núi đá vôi xen kẽ các thung lũng hẹp và sông suối. Trước năm 1945, làng bản của tộc người Tày, Nùng ở huyện Quảng Hòa giữ vai trò hạt nhân trong đời sống xã hội. Bản làng người Tày thường định cư ở các vùng trũng thấp màu mỡ. Họ lập làng gần nguồn nước tưới để tiện trồng trọt. Ngược lại, người Nùng di cư sang muộn hơn thường cư trú trên các triền núi cao hoặc sườn dốc khô cằn. Dù khác biệt địa hình, hai tộc người đã cộng cư hòa thuận qua nhiều thế kỷ. Cộng đồng cùng chia sẻ không gian sinh tồn và văn hóa bản địa. Làng bản truyền thống có quy mô nhỏ. Mỗi bản gồm vài nóc nhà đến vài chục nóc nhà cùng huyết thống hoặc láng giềng. Mối liên kết làng bản tạo nên sức mạnh giúp đồng bào chống chọi thú dữ và thiên tai. Thiết chế xã hội cổ truyền duy trì trật tự qua luật tục nghiêm ngặt. Đây là cơ sở hình thành nên diện mạo lịch sử đặc sắc của huyện Quảng Hòa trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

1.1. Vị trí địa lý và không gian cư trú

Quảng Hòa sở hữu cảnh quan thiên nhiên đa dạng với thung lũng đá vôi và mạng lưới sông suối dày đặc. Không gian cư trú phản ánh sự thích ứng môi trường của người dân. Người Tày sớm chiếm lĩnh dải đất ven sông Bằng Giang và sông Bắc Vọng. Nơi đây đất đai phì nhiêu, nguồn nước dồi dào, thuận tiện cày cấy ruộng nước. Người Nùng đến sau định cư ven sườn đồi hoặc thung lũng hẹp trên cao. Nhà sàn của đồng bào tựa lưng vào núi và hướng mặt ra cánh đồng. Cách bố trí này bảo vệ cuộc sống trước gió bão và động vật nguy hiểm. Không gian bản làng giữ vị trí phòng thủ quân sự quan trọng nơi biên cương.

1.2. Thành phần cư dân Tày và Nùng

Cộng đồng cư dân tại Quảng Hòa bao gồm nhiều nhóm địa phương khác nhau. Nhóm Tày bản địa chiếm số lượng đông đảo và cư trú lâu đời. Trong khi đó, người Nùng gồm mười nhóm di cư như Nùng An, Nùng Inh, Nùng Cháo, Nùng Giang. Hai nhóm Nùng Mấn và Nùng Phiảng vốn sinh sống lâu đời cùng người Tày. Các nhóm Nùng khác di cư từ các châu lân cận thuộc Trung Quốc sang khoảng vài trăm năm trước. Mỗi phân nhóm gìn giữ trang phục, tiếng nói và nét văn hóa riêng biệt. Họ đoàn kết trong sản xuất và bảo vệ xóm làng. Sự gắn kết giữa các tộc người xây dựng nên cấu trúc xã hội bền chặt và giàu bản sắc văn hóa.

II. Phân tích làng bản tộc người Tày Nùng ở huyện Quảng Hòa Cao Bằng

Kinh tế làng bản thời kỳ này đối mặt nhiều thử thách khắc nghiệt. Ruộng đất màu mỡ ở vùng thấp rất hạn chế và chịu sự chi phối của tầng lớp thổ ty địa chủ. Phần lớn nông dân nghèo người Tày và Nùng thiếu thốn tư liệu sản xuất. Khí hậu biên giới khắc nghiệt gây ra nhiều trở ngại lớn. Đất đai khô cằn và sương muối mùa đông làm giảm năng suất cây trồng. Lịch sử địa phương ghi nhận vùng đất có lam chướng nặng nề. Nông nghiệp chủ yếu dựa vào thời tiết tự nhiên nên sản lượng bấp bênh. Mỗi năm nông dân chỉ cấy được một vụ lúa mùa duy nhất. Ruộng đồng hoàn toàn không có vụ chiêm do giá rét và thiếu nước tưới. Người dân bắt đầu gieo cấy vào tháng Tư và thu hoạch vào tháng Tám hoặc tháng Chín. Nếu cấy muộn, lúa trúng gió lạnh sẽ chết khô trên ruộng. Bên cạnh đó, ách thống trị của thực dân Pháp và quan lại địa phương bòn rút tài nguyên. Sưu cao thuế nặng cùng nạn lao dịch ép buộc đẩy cuộc sống bản làng vào cảnh bần cùng hóa.

2.1. Hạn chế về điều kiện tự nhiên và canh tác

Địa hình đồi núi dốc đứng gây khó khăn cho việc mở rộng đồng ruộng. Nguồn nước tưới phụ thuộc hoàn toàn vào mưa tự nhiên và suối cạn. Huyện Quảng Hòa thiếu hệ thống thủy lợi quy mô lớn trước năm 1945. Hiện tượng khô hạn thường xuyên xảy ra trên các chân ruộng cao. Khí hậu khắc nghiệt với mùa đông buốt giá cản trở việc trồng lúa vụ chiêm. Nông dân chỉ gieo cấy được vụ mùa ngắn ngày. Công cụ canh tác bằng sắt còn thô sơ và nặng nề. Năng suất ngũ cốc đạt mức thấp so với các tỉnh đồng bằng. Đời sống cư dân phụ thuộc nhiều vào thời tiết tự nhiên thất thường. Nạn mất mùa đe dọa sinh kế các gia đình qua từng năm.

2.2. Áp bức xã hội và phân hóa giai cấp

Chế độ phong kiến thổ ty kết hợp chính quyền thuộc địa Pháp siết chặt bóc lột. Đa số ruộng tốt nằm trong tay tầng lớp kỳ hào và địa chủ giàu có. Nông dân Tày, Nùng nghèo khó phải lĩnh canh với mức tô tức nặng nề. Họ chịu thêm hàng loạt thứ thuế thân vô lý cùng phu phen tạp dịch. Các gia đình thiếu đói thường xuyên phải vay nợ lãi cao từ nhà giàu. Nợ nần biến nhiều người thành người hầu hoặc tá điền làm thuê. Mâu thuẫn giai cấp trong lòng bản làng vì thế ngày càng sâu sắc. Sự bất công này kìm hãm sự phát triển của sức sản xuất. Lòng căm thù áp bức thôi thúc đồng bào tham gia các phong trào cứu quốc.

III. Giải pháp sinh kế làng bản tộc người Tày Nùng ở huyện Quảng Hòa

Để sinh tồn trước điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cư dân Tày và Nùng sáng tạo nhiều phương pháp canh tác thích ứng. Đồng bào đúc kết kinh nghiệm mùa vụ qua câu ca dao tục ngữ sâu sắc. Việc gieo mạ và cấy lúa tuân thủ nghiêm ngặt lịch tiết khí vùng cao. Người dân ưu tiên chọn giống lúa thuần chủng có khả năng chống chịu sâu bệnh và sương lạnh. Phụ nữ lớn tuổi trong bản đảm nhận khâu chọn lọc và bảo quản hạt giống trên gác bếp. Bên cạnh làm ruộng nước, người Nùng đẩy mạnh phát rẫy làm nương trên đồi dốc đá. Họ trồng ngô, kê, khoai và sắn để bổ sung nguồn lương thực dự trữ. Công cụ lao động được cải tiến linh hoạt phù hợp từng dạng địa hình. Chiếc cày chìa vôi và bừa răng gỗ hỗ trợ xới đất nương lẫn sỏi đá. Ngoài nông nghiệp, đồng bào phát triển các nghề thủ công truyền thống đa dạng. Nghề rèn đúc, dệt vải chàm và làm ngói âm dương cung cấp vật dụng thiết yếu cho xóm làng. Hoạt động trao đổi hàng hóa tại các chợ phiên giải quyết nhu cầu đời sống thường nhật.

3.1. Kinh nghiệm nông nghiệp và tri thức dân gian

Tri thức dân gian định hướng toàn bộ quy trình sản xuất của bản làng. Người Tày và Nùng quan sát hoa nở và quả chín để nhận biết thời vụ. Câu tục ngữ nhắc nhở cấy đúng vụ để thóc nếp đầy gác, tránh lúa chết khô vì sương giá. Khâu gieo mạ đòi hỏi sự tỉ mỉ cao độ nhằm tạo cây mạ khỏe. Người dân sử dụng phân chuồng và tro bếp bón lót cải tạo đất cằn. Dụng cụ lao động gồm cuốc, mai, dao phát cỏ bờ và phỉnh xới đất đá. Chiếc bừa răng sắt hoặc bừa gỗ vừa làm ruộng vừa cào bằng đất nương rẫy. Sự kết hợp khéo léo này bù đắp cho điều kiện tự nhiên bất lợi nơi biên giới.

3.2. Kinh tế bổ trợ và tương trợ cộng đồng

Kinh tế tự cấp tự túc dựa nhiều vào hoạt động bổ trợ ngoài đồng ruộng. Các nghề thủ công như rèn nông cụ Phúc Sen hay dệt vải chàm giúp bà con tự túc vật phẩm. Hoạt động chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà tăng thêm nguồn đạm và sức kéo cày bừa. Tinh thần đổi công diễn ra phổ biến vào vụ mùa bận rộn. Những gia đình thiếu nhân lực nhận sự trợ giúp đổi công từ hàng xóm láng giềng. Mối quan hệ dòng họ thắt chặt sự gắn kết trong toàn thể thôn bản. Khi gia đình gặp hoạn nạn, cả làng cùng chung tay chia sẻ gạo thóc và củi đun. Thiết chế tương thân tương ái bảo đảm sự ổn định xã hội bản làng.

IV. Kết luận về làng bản của tộc người Tày Nùng ở huyện Quảng Hòa

Làng bản của đồng bào Tày và Nùng tại Quảng Hòa trước năm 1945 là một thực thể lịch sử văn hóa tiêu biểu. Không gian cư trú này thể hiện năng lực thích nghi linh hoạt của con người trước tự nhiên khắc nghiệt. Tính cố kết cộng đồng dựa trên nền tảng huyết thống, láng giềng và luật tục truyền thống. Trải qua thăng trầm lịch sử, bản làng vẫn bảo tồn nguyên vẹn các giá trị bản sắc quý báu. Nền kinh tế tự cấp tự túc tạo dựng nền móng bền vững cho cộng đồng các dân tộc biên cương. Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu làng bản truyền thống mang ý nghĩa thực tiễn to lớn. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử xác thực cho công tác hoạch định chính sách phát triển. Địa phương có thể vận dụng kinh nghiệm dân gian vào phát triển nông nghiệp sinh thái. Giá trị văn hóa làng nghề rèn đúc và kiến trúc nhà sàn mở ra tiềm năng du lịch cộng đồng. Bảo tồn không gian làng bản góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và giữ vững an ninh vùng biên cương.

4.1. Giá trị lịch sử văn hóa trường tồn

Cấu trúc làng bản truyền thống phản ánh chiều sâu lịch sử của vùng đất Cao Bằng. Không gian làng bản lưu giữ hệ thống di sản vật thể và phi vật thể phong phú. Những ngôi nhà sàn gỗ cổ truyền, trang phục nhuộm chàm và làn điệu dân ca vẫn sống mãi. Sự gắn bó mật thiết giữa người Tày và người Nùng tạo nên khối đoàn kết bền vững qua các thời kỳ lịch sử. Tinh thần quật cường chống ngoại xâm và bảo vệ đường biên mốc giới bắt nguồn từ chính tổ chức xóm bản. Giá trị này tạo nên bản sắc độc đáo cho văn hóa vùng Đông Bắc Việt Nam. Việc khẳng định vị thế làng bản giúp làm sáng tỏ tiến trình phát triển của các tộc người thiểu số.

4.2. Ứng dụng trong bảo tồn và phát triển du lịch

Di sản làng bản thời tiền Cách mạng mở ra triển vọng phát triển du lịch bền vững. Huyện Quảng Hòa có cơ hội xây dựng các mô hình du lịch trải nghiệm văn hóa bản địa. Du khách có thể khám phá nghề rèn thủ công truyền thống và nghệ thuật làm ngói máng. Không gian kiến trúc nhà sàn kết hợp cảnh quan karst trở thành điểm nhấn du lịch hấp dẫn. Chính quyền địa phương cần kết hợp bảo tồn di sản với nâng cao thu nhập cho cư dân. Tri thức bản địa về canh tác nông nghiệp và thảo dược tự nhiên cũng cần được phục dựng. Phát triển kinh tế gắn với giữ gìn cảnh quan bản làng bảo đảm tương lai thịnh vượng lâu dài.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/10/2026
Làng bản của các tộc người tày nùng ở huyện quảng hòa tỉnh cao bằng trước năm 1945

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN QUẢNG HÒA - TỈNH CAO BẰNG 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Huyện Quảng Hòa là huyện vùng cao nằm ở phía đông nam của tỉnh Cao Bằng, huyện lỵ là thị trấn Quảng Uyên cách trung tâm thành phố Cao Bằng khoảng 37 km theo quốc lộ 3. Huyện Quảng Hòa có tọa độ địa lý từ 22027’17’’đến 22047’39’’ vĩ Bắc, từ 106020’48’’ đến 106036’30’’ kinh đông [92, tr.799], phía Đông giáp huyện Hạ Lang (tỉnh Cao Bằng) và huyện Long Châu (Quảng Tây, Trung Quốc), phía Tây giáp huyện Hòa An và huyện Thạch An, phía Bắc giáp huyện Trùng Khánh, phía Nam giáp huyện Thạch An.

Sách Đại Nam nhất thống chí có ghi huyện Quảng Hòa “cách phủ 69 dặm về phía đông, đông tây cách nhau 88 dặm, nam bắc cách nhau 115 dặm, phía đông đến địa giới Long Châu nước Thanh 74 dặm, phía tây đến địa giới 2 huyện Thạch Lâm và Thạch An 14 dặm, phía nam đến địa giới huyện Thạch An 51 dặm, phía bắc đến địa giới các huyện Thượng Lang, Hạ Lang và châu Qui Thuận nước Thanh 64 dặm” [68, tr. Tổng diện tích tự nhiên của huyện Quảng Hòa là 668,95 km2 (chiếm khoảng 10% diện tích tự nhiên của tỉnh Cao Bằng), có 22,7 km đường biên giới giáp với huyện Long Châu (Quảng Tây, Trung Quốc) đồng thời là địa bàn trung tâm của khu vực miền Đông tỉnh Cao Bằng, từ Quảng Hòa có các tuyến đường 206 nối với huyện Trùng Khánh và thác Bản Giốc, tuyến đường 207 nối với huyện Hạ Lang và đặc biệt có tuyến đường quốc lộ 3 đến cửa khẩu quốc tế Tà Lùng thông thương với Trung Quốc. Trong tiến trình lịch sử, vùng đất Quảng Hòa là địa bàn chiến lược quan trọng không chỉ về chính trị, kinh tế, văn hóa mà còn về an ninh, quốc phòng. Ngay từ thế kỷ XI, người Tống coi nơi đây là “cổ họng của Giao Chỉ”, Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV đánh giá “là nơi phên dậu thứ tư về phương Bắc” của nước ta.

Vì thế, các nhà nước trong lịch sử Việt Nam có sự quan tâm đặc biệt đến địa bàn này. Hơn nữa, đặc điểm vị trí địa lý cũng giúp cho Quảng Hòa phát triển giao lưu kinh tế, văn hóa với trung tâm tỉnh Cao Bằng, các huyện miền Đông Cao Bằng (Trùng Khánh, Hạ Lang) và miền Hoa Nam của Trung Quốc, tiếp nhận nhiều luồng dân di cư từ nơi khác đến cộng cư với cư dân bản địa (người từ Trung Quốc sang, người từ miền xuôi lên) làm cho đời sống kinh tế, văn hóa của cộng đồng các dân tộc ở Quảng Hòa vừa mang tính chất chính trị, vừa có yếu tố bản địa, vừa có sự giao thoa, tiếp biến văn hóa bên ngoài. Điều kiện tự nhiên 1. Địa hình Quảng Hòa nằm ở độ cao trung bình khoảng 400 - 500m so với mực nước biển, trong vùng núi đá vôi khá rộng lớn được hình thành từ lâu đời và gần như không có sự thay đổi lớn qua các thời kỳ địa chất [103, tr.

Tác giả Nguyễn Chí Huyên đã từng viết về vùng đất Quảng Hòa “phần lớn là núi đá vôi, nhiều hang động, nhiều cánh đồng rộng như: Quảng Uyên, Phục Hoà, Trùng Khánh” [42, tr. Địa hình Quảng Hòa khá phức tạp gồm nhiều dạng địa hình khác nhau như núi đá vôi dựng đứng, cao nguyên, núi đất thấp và địa hình thung lũng. Thứ nhất, dạng địa hình núi đá vôi là địa hình cacxtơ tân kiến tạo. Dạng địa hình này chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của huyện.

Tiêu biểu cho dạng địa hình này là “dãy Lục Khu giữa Cao Bằng và Quảng Uyên, các núi Ba Châu phủ lên các khu vực Hạ Lang và Trùng Khánh Phủ” [1].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Phí Văn Nhất (2025), Làng bản của các tộc người Tày, Nùng ở huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng trước năm 1945, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Phí, V. N. (2025). Làng bản của các tộc người Tày, Nùng ở huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng trước năm 1945 [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/lang-ban-toc-nguoi-tay-nung-huyen-quang-hoa-cao-bang-truoc-1945/9768536743
IEEE
V. N. Phí, "Làng bản của các tộc người Tày, Nùng ở huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng trước năm 1945," Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2025. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/lang-ban-toc-nguoi-tay-nung-huyen-quang-hoa-cao-bang-truoc-1945/9768536743

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác