PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sự kiện chính thức trở thành thành viên của WTO vào năm 2007 đánh dấu bƣớc ngoặt mới trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam. Để từng bƣớc mở cửa, hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam phải từng bƣớc thay đổi trong cấu trúc tài chính, các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của mình. Bên cạnh những kết quả đạt đƣợc khi Việt Nam tiếp cận đƣợc thị trƣờng thƣơng mại toàn cầu thì Việt Nam cũng đã và đang phải đối mặt với không ít thách thức do quá trình hội nhập quốc tế mang lại.
Sau những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng nhất của thế kỉ 21 trên toàn cầu thì việc điều hành các chính sách vĩ mô theo Lý thuyết bộ ba bất khả thi - giả thuyết rằng một quốc gia duy nhất chỉ có thể đạt đƣợc ít nhất hai trong số ba mục tiêu: độc lập tiền tệ, tỷ giá hối đoái cố định, dòng vốn tự do luân chuyển – lại đƣợc đặt ra. Những năm gần đây, sự gia tăng dự trữ ngoại hối của các nền kinh tế mới nổi đã thay đổi phần nào trật tự của bộ ba bất khả thi cổ điển. Nhiều ngƣời đã lập luận rằng việc tích lũy dự trữ ngoại hối gần đây là điểm nhấn quan trọng để thay đổi mô hình bộ ba bất khả thi trong cấu trúc tài chính quốc tế của các nƣớc đang phát triển giúp các nƣớc này tăng trƣởng và phát triển kinh tế bền vững. Theo đề tài nghiên cứu, để theo đuổi mục tiêu kiềm chế lạm phát, tăng trƣởng ổn định và bền vững phù hợp với kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 mà Chính phủ đã đề ra thì Việt Nam cũng cần lựa chọn một kết hợp các chính sách vĩ mô phù hợp dựa trên khung Lý thuyết bộ ba bất khả thi và các công trình nghiên cứu liên quan.
Mục đích nghiên cứu đề tài Theo Lý thuyết bộ ba bất khả thi và các công trình nghiên cứu liên quan, Việt Nam có thể lựa chọn các kết hợp nhƣ: 1. Hội nhập tài chính - Độc lập tiền tệ - Chế độ tỷ giá thả nổi; 2. Hội nhập tài chính - Tỷ giá ổn định - Chính sách tiền tệ không độc lập; 3. Độc lập tiền tệ - Tỷ giá ổn định - Đóng cửa thị trƣờng vốn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khả năng vay nợ nƣớc ngoài bằng nội tệ và một trong ba sự kết hợp trên hoặc một sự kết hợp trung gian nằm trong tam giác bất khả thi. Một kết hợp trung gian nằm trong tam giác Bất khả thi với Chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn - Chế độ tỷ giá bán ổn định - Từng bƣớc hội nhập tài chính với một tỷ lệ dự trữ ngoại hối nhất định Đề tài này sẽ đƣa ra khuyến nghị Việt Nam nên chọn kết hợp nào để thực hiện mục tiêu tăng trƣởng kinh tế ổn định, bền vững và một số giải pháp thực hiện sự kết hợp đó một cách hiệu quả trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2015. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu sâu từng chính sách đồng thời đƣa ra cái nhìn tổng quát trên cơ sở đánh giá tổng hòa tác động đối với nền kinh tế của chính sách tỷ giá, chính sách kiểm soát vốn và chính sách tiền tệ.
Bên cạnh đó, các yếu tố vĩ mô khác của nền kinh tế cũng đƣợc xem xét nhƣ các nhân tố bổ trợ cho hiệu quả chính sách. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là vĩ mô nền kinh tế Việt Nam trong mối tƣơng quan với hệ thống tài chính thế giới. Đề tài cũng đề cập đến các giải pháp chủ đạo ở tầm quốc gia, chỉ ra đâu là kết hợp tối ƣu mà Việt Nam nên hƣớng đến, cũng nhƣ nhóm giải pháp bổ trợ để đảm bảo các giải pháp đƣợc thực hiện đồng bộ, toàn diện và bền vững. Phƣơng pháp nghiên cứu Do nội dung của đề tài liên quan đến rất nhiều lĩnh vực, cần đánh giá, nhìn nhận dƣới góc độ tổng quát, khách quan nên tác giả đã kết hợp nhiều phƣơng pháp khác nhau: Phƣơng pháp hệ thống hóa, mô tả, phân tích các yếu tố liên quan đến từng chính sách nhìn trong mối quan hệ biện chứng với các nhân tố kinh tế thế giới và cơ sở hạ tầng và quan điểm điều hành của chính phủ trên cơ sở các kinh nghiệm và lý luận cơ bản về vấn đề bộ ba bất khả thi đã đƣợc trình bày và công bố trong các công trình liên quan đến đề tài và các văn bản chính thức của chính phủ.
Sau đó, tác giả tiếp tục kế thừa và phát triển dựa trên góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng của luận văn. Phƣơng pháp phân tích, xử lý số liệu, dữ liệu thứ cấp đƣợc công bố từ các cơ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 quan thống kê, cơ quan quản lý, các tổ chức chuyên môn, các tổ chức quốc tế uy tín nhằm giúp đề tài có thể phân tích và đánh giá vấn đề khách quan nhất. Bên cạnh đó, đề tài còn kết hợp phƣơng pháp so sánh trƣờng hợp nghiên cứu cụ thể là nền kinh tế Việt Nam với các quốc gia lân cận trong khu vực (phân tích theo chiều ngang) và những thay đổi trong suốt thời gian từ khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế đến hiện nay (tháng 9/2012) (phân tích theo chiều dọc). Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về lựa chọn bộ ba chính sách, có xét đến các yếu tố khác nhƣ dự trữ ngoại hối, thƣớc đo các yếu tố của bộ ba chính sách,… Phân tích, đánh giá thực trạng kết hợp bộ ba chính sách của Việt Nam, đƣa ra sự lựa chọn kết hợp bộ ba chính sách theo Lý thuyết bộ ba bất khả thi và các giải pháp cho chính sách tỷ giá, tiền tệ và lộ trình hội nhập tài chính và dự trữ ngoại hối của Việt Nam.
Với những phân tích đánh giá trong luận văn, các tác giả khác có thể tiếp tục phát triển ý tƣởng thành nhiều đề tài nghiên cứu chuyên sâu dựa trên nền tảng là luận văn này của tác giả. Đồng thời, đề tài cũng góp phần nâng cao trình độ lý luận và những hiểu biết sâu sắc về điều hành kinh tế vĩ mô cho cán bộ quản lý chuyên môn. Hƣớng phát triển của đề tài Trong khuôn khổ của đề tài, tác giả chƣa định lƣợng một cách sâu sắc về các vấn đề nghiên cứu, mà chủ yếu là dựa trên cơ sở định tính để nhằm đƣa ra những giải pháp chính sách giai đoạn 2012-2015. Do đó, hƣớng phát triển của đề tài là đi sâu vào định lƣợng nhằm thuyết phục hóa đề tài.
Bố cục của đề tài Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về lý thuyết bộ ba bất khả thi Chƣơng 2: Bộ ba bất khả thi ở Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp vận dụng Lý thuyết Bộ ba bất khả thi vào điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT BỘ BA BẤT KHẢ THI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH MUNDELL – FLEMING Về bản chất, mô hình Mudell Fleming nghiên cứu các kết quả của IS - LM trong điều kiện nền kinh tế mở (tức mô hình IS-LM-BP). Khi đó, có thêm một yếu tố tác động đến sản lƣợng của nền kinh tế đó là xuất nhập khẩu. Robert Mundell và Marcus Fleming (1960) đã chỉ ra rằng ở những quốc gia sử dụng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để đạt đƣợc sự cân bằng bên trong (cân bằng tổng cung - tổng cầu) và cân bằng bên ngoài (cân bằng trong cán cân thanh toán) thì chính sách tiền tệ nên đƣợc sử dụng để đạt cân bằng trong cán cân thanh toán và chính sách tài khóa nên đƣợc sử dụng để đạt đƣợc cân bằng trong tổng cung và tổng cầu.
Theo mô hình cân bằng, có: Yd = C + G + I + NX. Trong đó: C là chi tiêu dùng, I là chi đầu tƣ, G là chi tiêu chính phủ và NX là xuất khẩu ròng. Ta có: NX = X0 – mY Với X0 là tổng giá trị xuất khẩu, mY là tổng giá trị nhập khẩu. Nhƣ vậy, xuất khẩu không phụ thuộc vào mức sản lƣợng (thu nhập) quốc gia Y nhƣng nhập khẩu là một hàm của Y.
Thị trƣờng hàng hóa cân bằng khi tổng cầu (Yd) bằng tổng cung Y. Cán cân thanh toán của một nền kinh tế bao gồm hai hành phần chủ yếu là tài khoản vãng lai và tài khoản vốn. BP = NX + KA. Do NX chiếm tỷ trọng lớn trong tài khoản vãng lai nên NX đƣợc xem nhƣ là tài khoản vãng lai và KA là tài khoản vốn (bằng tài sản trong nƣớc đƣợc sở hữu bởi công dân nƣớc ngoài trừ đi tài sản nƣớc ngoài đƣợc sở hữu bởi công dân trong nƣớc).
Giả sử chu chuyển vốn hoàn hảo, ta có tài khoản vốn là một hàm của chênh lệch giữa lãi suất trong nƣớc và lãi suất trong nƣớc, cụ thể: KA = k ( r – r*) Nếu lãi suất trong nƣớc tăng tƣơng đối so với lãi suất nƣớc ngoài thì lợi nhuận đầu tƣ trong nƣớc cao hơn lợi nhuận đầu tƣ ra nƣớc ngoài, công dân trong nƣớc và nƣớc ngoài có xu hƣớng tăng mua tài sản trong nƣớc và giảm mua tài sản nƣớc ngoài, vốn có khuynh hƣớng đổ vào trong nƣớc. Nói một cách khác, nếu lãi suất trong nƣớc (r) cao hơn lãi suất nƣớc ngoài (r *) thì tài khoản vốn sẽ thặng dƣ và ngƣợc lại. Các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 khoản mục của một cán cân thanh toán có thể có sự thâm hụt hoặc thặng dƣ nhƣng cán cân thanh toán tổng thể phải luôn cân bằng. Trong mô hình IS-LM-BP, IS là tập hợp các phối hợp khác nhau giữa thu nhập và lãi suất mà tại đó thị trƣờng hàng hóa cân bằng.
Sự dịch chuyển đƣờng IS thể hiện tác động của chính sách tài khóa. Đƣờng LM là tập hợp các phối hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập mà tại đó thị trƣờng tiền tệ cân bằng. Sự dịch chuyển đƣờng LM thể hiện tác động của chính sách tiền tệ. Đƣờng BP là tập hợp những phối hợp khác nhau giữa thu nhập và lãi suất mà ở đó cán cân thanh toán cân bằng.
Sự tác động của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có thể làm thay đổi các trạng thái của cán cân thanh toán. Đƣờng BP dốc lên thể hiện mối quan hệ đồng biến giữa lãi suất và thu nhập.