CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN 1. Khái niệm chính sách kế toán Trong chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21- Trình bày báo cáo tài chính và chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29 – Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót thì thuật ngữ “chính sách kế toán” được hiểu là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính. Từ đó cho thấy chính sách kế toán gồm các nội dung sau đây: Chính sách kế toán là những nguyên tắc chung mà tất cả các doanh nghiệp phải áp dụng.
Nguyên tắc kế toán được hiểu là các quy định, các thủ tục cho việc ghi nhận, đo lường các yếu tố của báo cáo tài chính để việc lập báo cáo tài chính đạt được độ tin cậy cao, dễ hiểu và so sánh được. Tại chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01- Chuẩn mực chung quy định các nguyên tắc kế toán cơ bản bao gồm : cơ sơ dồn tích, giả định hoạt động liên tục, nguyên tắc giá gốc, phù hợp, nhất quán, thận trọng và trọng yếu. Chính sách kế toán là những lựa chọn trong phương pháp kế toán. Do đặc thù sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp và mục tiêu, chính sách hoạt động của mỗi doanh nghiệp là khác nhau nên chuẩn mực kế toán Việt Nam cho phép doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương pháp kế toán trong phạm vi, khuổn khổ chuẩn mực cho phép.
Việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp kế toán khác nhau sẽ làm thay đổi thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính hay thông tin cung cấp ra bên ngoài. Các chính sách kế toán có nhiều lựa chọn khác nhau như phương pháp tính giá hàng tồn kho, phương Luan van 11 pháp khấu hao tài sản cố định, phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ, phương pháp tính giá thành sản phẩm. Chính sách kế toán còn liên quan đến các ước tính kế toán. Uớc tính kế toán là các nguyên tắc đo lường đối tượng kế toán mà công ty tự xây dựng do chuẩn mực không thể bao quát mọi vấn đề phát sinh tại đơn vị cơ sở.
Ước tính kế toán đề cập đến các khoản mục trên báo cáo tài chính mà giá trị của chúng được ước tính do không có giá trị chính xác hoặc không có phương pháp xác định chính xác. Ước tính kế toán hình thành trên cơ sở vận dụng các giả định và nguyên tắc kế toán để đảm bảo thông tin kế toán đáp ứng được mục tiêu và yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin. Tuy nhiên do tính chất phụ thuộc khá nhiều vào các xét đoán chủ quan của doanh nghiệp nên luôn tồn tại một nguy cơ là các ước tính kế toán được xác định và ghi nhận một cách không phù hợp dẫn đến làm sai lệch đáng kể thông tin tài chính của doanh nghiệp. Các ước tính kế toán bao gồm các ước tính liên quan đến khấu hao tài sản cố định, các khoản dự phòng giảm giá, dự phòng chi phí bảo hành sản phẩm, ước tính tỷ lệ hoàn thành hợp đồng xây dựng để ghi nhận chi phí hoặc doanh thu hay những ước tính kế toán liên quan đến việc phân bổ hay trích trước chi phí.
Ngoài việc vận dụng các chính sách kế toán để lập và trình bày báo cáo tài chính, tại đoạn 67-71 của chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21- Trình bày báo cáo tài chính còn nhấn mạnh doanh nghiệp cần phải công bố công khai chính sách kế toán của chính doanh nghiệp một các kỹ lưỡng để người sử dụng có điều kiện ra quyết định. Việc công bố các chính sách kế toán áp dụng tại doanh nghiệp thể hiện trên Thuyết minh báo cáo tài chính. Vai trò của chính sách kế toán Chính sách kế toán có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp cũng như các đối tượng sử dụng thông tin của doanh nghiệp, cụ thể: - Đối với quản trị doanh nghiệp Luan van 12 + Đối với nhà quản trị: Nhà quản trị cần có thông tin để hoạch định, tổ chức và kiểm soát toàn bộ tài sản, các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. Chính sách kế toán chính là phương tiện giúp nhà quản trị kiểm tra, kiểm soát tình hình tài chính, các nguồn lực của doanh nghiệp.
Từ đó, giúp nhà quản trị có thể xây dựng các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trong mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời, thông qua các chính sách kế toán, nhà quản trị có thể điều chỉnh một số thông tin tài chính nhằm đạt được các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của mình. Đối với các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp: + Đối với các cơ quan chức năng, tổ chức kiểm toán: Thông qua chính sách kế toán được công bố trên thuyết minh báo cáo tài chính của doanh nghiệp, các tổ chức có liên quan có thể kiểm tra tình hình tuân thủ các quy định về pháp luật kế toán trong doanh nghiệp, đánh giá tính trung thực, hợp lý của thông tin được phản ánh trên báo cáo tài chính. + Đối với nhà đầu tư, ngân hàng, các tổ chức tín dụng: Thông qua việc xem xét các thông tin trên báo cáo tài chính cũng như nghiên cứu các chính sách kế toán mà doanh nghiệp đang áp dụng để đánh giá thực trạng tài chính, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Qua đó, nhà đầu tư, ngân hàng. có thể đưa ra các quyết đinh về tài trợ vốn, đầu tư vốn thích hợp đối với từng doanh nghiệp nhằm bảo toàn vốn và tối đa lợi ích của mình. Qua những phân tích trên cho thấy việc vận dụng chính sách kế toán có vai trò rất quan trọng vì nó sẽ ảnh hưởng đến các thông tin kế toán được trình bày trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp cần cân nhắc trong việc xây dựng và lựa chọn các chính sách kế toán ở mỗi doanh nghiệp vừa đảm bảo nhu cầu thông tin cho quản lý nội bộ, vừa đảm bảo cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng một cách trung thực, hợp lý, và đầy đủ nhất.
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Đặc thù của doanh nghiệp Các doanh nghiệp có đặc thù khác nhau sẽ có xu hướng cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng khác nhau nên điều đó sẽ tác động đến việc vận dụng các chính sách kế toán để điều chỉnh thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có giá trị hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn thì sẽ có xu hướng vận dụng nhiều hơn các chính sách liên quan đến hàng tồn kho để đáp ứng tốt nhất cho mục tiêu của doanh nghiệp như: phương pháp tính giá hàng xuất kho, trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Hay ở những doanh nghiệp có giá trị TSCĐ lớn thì sẽ có xu hướng vận dụng các chính sách liên quan đến TSCĐ như: phương pháp trích khấu hao TSCĐ, kế toán chi phí sửa chữa TSCĐ như phân bổ chi phí trả trước ( trong trường hợp doanh nghiệp chưa trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ), chi phí phải trả (trường hợp trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ) để tác động lên thông tin tài chính.
Chẳng hạn, những doanh nghiệp đầu tư tài sản cố định theo công nghệ hiện đại, do tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ, những tài sản này sẽ nhanh chóng bị lạc hâu, vì vậy doanh nghiệp thường có xu hướng trích khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần. Nếu doanh nghiệp sản xuất thì lại có xu hướng vận dụng chính sách đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ cũng như một số phương pháp liên quan đến hàng tồn kho. Doanh nghiệp xây dựng hay các doanh nghiệp có khoản bảo hành sản phẩm lớn thì sẽ vận dụng các chính sách liên quan đến chi phí bảo hành (dự phòng phải trả). Nếu doanh nghiệp bán hàng trả chậm, trả góp thì sử dụng các chính sách về phân bổ lãi trả chậm, về dự phòng phải thu khó đòi….
Thông thường các doanh nghiệp sẽ vận dụng kết hợp các chính sách kế toán với nhau để đảm bảo thông tin kế toán công bố đáp ứng tốt nhất nhu cầu cung câp thông tin của doanh nghiệp. Nhu cầu về thông tin tài chính Hiện nay, nhu cầu về thông tin tài chính của doanh nghiêp rất được các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp quan tâm, đặc biệt là các đối tượng bên ngoài. Điều này gây áp lực cho doanh nghiệp trong việc lựa chọn chính sách kế toán. Khi thông tin trình bày trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp có ảnh hương đến quyết định của nhà đầu tư thì doanh nghiệp sẽ vận dụng các chính sách kế toán để có thể cung cấp thông tin tích cực về doanh nghiệp, một khi thông tin kế toán có tính chất quyết định đối với doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ vận dụng chính sách kế toán để đưa ra những thông tin cần thiết và có lợi nhất cho doanh nghiệp.
Theo Cooke (1989) và Raffournier (1995) khi nghiên cứu các công ty tại Thụy Điển thì đã chỉ ra rằng có môi quan hệ giữa quy mô của doanh nghiệp với mức độ công bố thông tin. Theo đó, các doanh nghiệp nhỏ gần như chắc chắn sẽ tiết lộ thông tin ít hơn, đồng thời việc lựa chọn chính sách kế toán và công bố thông tin dựa trên năng lực cá nhân của họ và tính chất môi trường họ phải đối mặt như hệ thống thuế, các nhà phân tích tài chính, ngân hàng. Kế toán luôn cân nhắc nhu cầu thông tin giữa các bên để lựa chọn chính sách kế toán cho phù hợp. Do vậy việc lựa chọn các chính sách kế toán để tác động lên các thông tin tài chính cũng là một trong các phương pháp được các doanh nghiệp cân nhắc sử dụng để đảm bảo thông tin cung cấp đến các đối tượng sử dụng khác nhau như ngân hàng, nhà cung cấp, cơ quan chức năng.một cách rõ ràng, đầy đủ cũng như đáp ứng được mục tiêu quản trị của doanh nghiệp theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp 1.
Mục tiêu của doanh nghiệp a. Mục tiêu về lợi nhuận doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp khác nhau thì có mục tiêu cung cấp thông tin về lợi nhuận khác nhau, lợi nhuận cũng chính là chỉ tiêu mà mỗi nhà đầu tư đều nhìn Luan van 15 vào khi xem các thông tin tài chính.