Luận Văn Thạc Sĩ: Vấn Đề Pháp Lý Về Sáp Nhập Công Ty Cổ Phần Ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích các vấn đề pháp lý liên quan đến sáp nhập công ty cổ phần tại Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc và thực tiễn.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2008

156
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1. Khái niệm sáp nhập doanh nghiệp, sáp nhập công ty cổ phần

1.2. Điểm qua lịch sử các trào lưu sáp nhập công ty cổ phần

1.3. Chủ thể tham gia hoạt động sáp nhập công ty cổ phần

1.3.1. Chủ thể trực tiếp tham gia hoạt động sáp nhập công ty cổ phần

1.3.2. Chủ thể gián tiếp tham gia hoạt động sáp nhập công ty cổ phần

1.4. Quy trình thực hiện một vụ sáp nhập công ty cổ phần

1.5. Các phương pháp thực hiện sáp nhập công ty cổ phần

1.5.1. Phương pháp thương lượng

1.5.2. Chào mua công khai

1.5.3. Mua bằng phương pháp đòn bẩy

1.5.4. Sử dụng các đặc điểm của công ty mẹ

1.6. Phân loại sáp nhập công ty cổ phần

1.7. Sự điều tiết của nhà nước đối với hoạt động sáp nhập công ty cổ phần

1.7.1. Vai trò của điều tiết nhà nước đối với hoạt động sáp nhập công ty cổ phần

1.7.2. Yêu cầu đối với sự điều tiết của nhà nước dành cho hoạt động sáp nhập

1.7.3. Xu hướng điều tiết của pháp luật đối với hoạt động sáp nhập công ty cổ phần

1.7.4. Sự dung hoà giữa vai trò điều tiết cạnh tranh với vai trò điều tiết hoạt động sáp nhập công ty cổ phần của nhà nước

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

2.1. Thực trạng hoạt động sáp nhập công ty cổ phần ở Việt Nam

2.2. Các quy định pháp luật cơ bản về hoạt động sáp nhập công ty cổ phần và một số kiến nghị

2.2.1. Về bảo đảm sự công bằng trong hoạt động sáp nhập công ty cổ phần

2.2.2. Về bảo vệ cổ đông trong hoạt động sáp nhập công ty cổ phần

2.3. Về các biện pháp chống lại sáp nhập

2.3.1. Quyền mua lại cổ phiếu của công ty (cổ phiếu quỹ - treasury stock)

2.3.2. Hạn chế chuyển nhượng cổ phần

2.3.3. Cổ phần ưu đãi, quyền chọn mua cổ phiếu

2.3.4. Các biện pháp pha loãng cổ phần

2.4. Về kiểm soát tập trung kinh tế trong các vụ sáp nhập công ty cổ phần

2.5. Về sáp nhập công ty cổ phần có yếu tố nước ngoài

2.6. Về xác định giá trị doanh nghiệp trong hoạt động sáp nhập công ty cổ phần

2.7. Một số vấn đề về thuế khi sáp nhập công ty cổ phần

2.7.1. Thuế đối với công ty cổ phần sáp nhập

2.7.2. Thuế đối với công ty cổ phần bị sáp nhập

2.7.3. Thuế đối với cổ đông của công ty cổ phần bị sáp nhập

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Vấn Đề Pháp Lý Về Sáp Nhập Công Ty Cổ Phần Tại Việt Nam

Sáp nhập công ty cổ phần là một trong những hoạt động quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh tại Việt Nam. Hoạt động này không chỉ giúp các doanh nghiệp mở rộng quy mô mà còn tạo ra nhiều cơ hội mới trong thị trường. Tuy nhiên, việc thực hiện sáp nhập cũng đặt ra nhiều thách thức về mặt pháp lý. Các quy định pháp luật hiện hành cần được xem xét và điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn.

1.1. Khái Niệm Sáp Nhập Công Ty Cổ Phần

Sáp nhập công ty cổ phần là quá trình mà một hoặc nhiều công ty cổ phần hợp nhất thành một công ty mới. Điều này thường diễn ra thông qua việc chuyển giao tài sản, quyền lợi và nghĩa vụ từ công ty bị sáp nhập sang công ty nhận sáp nhập. Theo quy định tại Điều 153 Luật Doanh Nghiệp 2005, sáp nhập có thể được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau.

1.2. Lịch Sử Phát Triển Sáp Nhập Công Ty Tại Việt Nam

Lịch sử sáp nhập công ty tại Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Từ những năm đầu của nền kinh tế thị trường, hoạt động sáp nhập đã bắt đầu xuất hiện và ngày càng trở nên phổ biến. Các chính sách pháp luật cũng đã được điều chỉnh để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động này.

II. Những Thách Thức Pháp Lý Trong Sáp Nhập Công Ty Cổ Phần

Mặc dù sáp nhập công ty cổ phần mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng tồn tại nhiều thách thức pháp lý. Các vấn đề như quyền lợi cổ đông, quy định về hợp đồng và trách nhiệm pháp lý cần được xem xét kỹ lưỡng.

2.1. Quyền Lợi Cổ Đông Trong Sáp Nhập

Quyền lợi của cổ đông là một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình sáp nhập. Cần đảm bảo rằng quyền lợi của cổ đông không bị xâm phạm trong quá trình chuyển giao tài sản và nghĩa vụ. Các quy định pháp luật hiện hành cần phải bảo vệ quyền lợi này một cách hiệu quả.

2.2. Trách Nhiệm Pháp Lý Của Các Bên Liên Quan

Trong quá trình sáp nhập, trách nhiệm pháp lý của các bên liên quan cần được xác định rõ ràng. Điều này bao gồm trách nhiệm của công ty bị sáp nhập, công ty nhận sáp nhập và các cổ đông. Việc xác định trách nhiệm này sẽ giúp giảm thiểu rủi ro pháp lý trong quá trình thực hiện.

III. Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề Pháp Lý Trong Sáp Nhập Công Ty

Để giải quyết các vấn đề pháp lý trong sáp nhập công ty cổ phần, cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Việc xây dựng các quy định pháp luật rõ ràng và minh bạch là rất cần thiết.

3.1. Cải Thiện Quy Định Pháp Luật Về Sáp Nhập

Cần cải thiện các quy định pháp luật hiện hành để phù hợp với thực tiễn sáp nhập công ty. Điều này bao gồm việc điều chỉnh các quy định về quyền lợi cổ đông, trách nhiệm pháp lý và quy trình thực hiện sáp nhập.

3.2. Tăng Cường Đào Tạo Về Pháp Luật Sáp Nhập

Đào tạo về pháp luật sáp nhập cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư là rất quan trọng. Việc này giúp nâng cao nhận thức và hiểu biết về các quy định pháp luật liên quan đến sáp nhập, từ đó giảm thiểu rủi ro pháp lý.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Sáp Nhập Công Ty Cổ Phần Tại Việt Nam

Sáp nhập công ty cổ phần đã được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam và mang lại nhiều kết quả tích cực. Nhiều doanh nghiệp đã thành công trong việc mở rộng quy mô và tăng cường sức cạnh tranh thông qua sáp nhập.

4.1. Các Trường Hợp Sáp Nhập Thành Công

Có nhiều trường hợp sáp nhập thành công tại Việt Nam, giúp các doanh nghiệp tăng cường vị thế trên thị trường. Những ví dụ điển hình có thể được nghiên cứu để rút ra bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp khác.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Sáp Nhập

Nghiên cứu về sáp nhập công ty cổ phần cho thấy rằng hoạt động này không chỉ giúp tăng trưởng doanh thu mà còn cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sáp nhập có thể tạo ra giá trị gia tăng cho cổ đông.

V. Kết Luận Về Vấn Đề Pháp Lý Về Sáp Nhập Công Ty Cổ Phần Tại Việt Nam

Vấn đề pháp lý về sáp nhập công ty cổ phần tại Việt Nam cần được quan tâm và cải thiện. Việc xây dựng một khung pháp lý rõ ràng và minh bạch sẽ giúp thúc đẩy hoạt động sáp nhập và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

5.1. Tương Lai Của Sáp Nhập Công Ty Tại Việt Nam

Tương lai của sáp nhập công ty cổ phần tại Việt Nam hứa hẹn sẽ phát triển mạnh mẽ. Các doanh nghiệp cần chuẩn bị tốt để tận dụng cơ hội từ hoạt động này.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Pháp Luật

Đề xuất các chính sách pháp luật nhằm hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động sáp nhập công ty cổ phần là rất cần thiết. Các chính sách này cần phải đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình thực hiện.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls một số vấn đề pháp lý về sáp nhập công ty cổ phần ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về sáp nhập công ty cổ phần Chương 2: Thực trạng pháp luật về sáp nhập công ty cổ phần ở Việt Nam và một số kiến nghị 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Khái niệm sáp nhập doanh nghiệp, sáp nhập công ty cổ phần Việc đi tìm một định nghĩa hàn lâm cho hoạt động SN DN, theo tác giả là chưa cần thiết trong điều kiện môi trường kinh doanh năng động và biến hóa như hiện nay. Cần hiểu khái niệm này qua những phương thức SN mà các DN đang tiến hành trên thực tế. Vì thế, việc hiểu khái niệm về SN DN trong phần này có mối liên hệ với mục 1. Tiếp cận khái niệm SN DN có thể theo nhiều hướng khác nhau.

Dưới góc độ kinh tế, SN là một trong những phương pháp tăng trưởng bên ngoài của DN, theo đó, việc tăng trưởng và mở rộng DN không dựa trên hoạt động sản xuất và kinh doanh của DN (còn gọi là tăng trưởng nội sinh). Dưới khía cạnh hợp đồng, SN DN được hiểu là việc sửa đổi hợp đồng thành lập công ty đối với cả DN SN (DN muốn SN, DN chủ động) và DN nhận SN (DN bị SN, DN bị động). Dưới góc độ pháp lý, bản thân hoạt động SN DN nói chung và SN CTCP nói riêng cần được hiểu là việc thực hiện một hoặc một chuỗi liên kết các hành vi khác nhau để thực hiện mục đích SN, chứ không nên hiểu đơn thuần chỉ là một hành vi đơn lẻ của DN. Bằng cách tiếp cận này, hoạt động SN thể hiện tính nhiều mặt của nó: vừa là một trong những hoạt động đầu tư, vừa là một trong những phương thức nhằm mở rộng quy mô kinh doanh của DN, nhưng cũng đồng thời là một trong những hình thức tập trung kinh tế.

Điều này giải thích vì sao, hầu như không có một bộ luật nào quy định tập trung về hoạt động SN DN trên thế giới, thậm chí có nước, luật còn không định nghĩa thế nào là SN DN mà chỉ quy định các phương thức thực hiện ý định SN (ví dụ Hàn Quốc), song lại có rất nhiều bộ luật điều chỉnh các khía 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cạnh khác nhau của hoạt động này. Có thể tìm thấy các chế định điều chỉnh SN DN trong Luật giao dịch chứng khoán, trong luật chống độc quyền, trong luật cạnh tranh, luật DN của hầu như tất cả các quốc gia. Điều 153 LDN VN 2005 quy định về SN là: Một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị SN) có thể SN vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận SN) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận SN, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị SN. Cách hiểu này khá sát nghĩa với định nghĩa trong từ điển tiếng Việt năm 1997 ( NXB Giáo Dục) về SN: là nhập với nhau làm một.

Trong Luật cạnh tranh 2005 của VN, nhà làm luật lại một lần nữa nhắc tới khái niệm SN DN theo hướng nhắc lại quy định của LDN 2005, nhưng lồng ghép khái niệm này cùng với khái niệm hợp nhất DN, mua lại DN, liên doanh giữa các DN và các hành vi tập trung kinh tế khác như là những dạng khác nhau của tập trung kinh tế, cũng như hàm ý rằng: các dạng này sẽ cùng chịu một quy chế điều chỉnh như nhau của chế định tập trung kinh tế trong luật cạnh tranh nói chung. So sánh với quy định về vấn đề này tại một số nước, cho thấy, cách hiểu của nhà làm luật VN đối với hoạt động SN khá hẹp. Chẳng hạn, theo Luật chống hạn chế cạnh tranh của Đức, các giao dịch sau đây được coi là hợp nhất, sáp nhập DN: mua phần tài sản cơ bản của DN khác; mua cổ phần và quyền bỏ phiếu của DN để chiếm 25 tới 50% cổ phần hoặc bảo đảm có quyền lợi chính; một số hình thức liên doanh; thoả thuận thành lập tập đoàn; hoặc tiếp tục hoạt động vì quyền lợi của DN khác; hoặc chuyển lợi nhuận cho DN khác; hoặc cho thuê hay chuyển thiết bị cho DN khác; Ban quản trị phối hợp (các DN có ít nhất nửa thành viên Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc là trùng nhau). 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo điều 91 Luật cạnh tranh Canađa, SN là sự thâu tóm hoặc thiết lập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp của một hay nhiều bên thông qua việc mua hoặc cho thuê cổ phần hoặc tài sản, hợp nhất hoặc kết hợp bằng cách khác, quyền kiểm soát đối với hoặc lợi ích đáng kể trong toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh, bên cung cấp, bên mua hàng hoặc một người khác bất kỳ.

Đây cũng là quan điểm mà tác giả cho là hợp lý nhất. Vì những lẽ sau đây:  Hoạt động SN bao hàm trong nó nhiều hành vi khác nhau nhằm thực hiện mục đích SN chứ không phải chỉ là việc thực hiện bản thân hành vi SN. Quy định tại điều 17.1 LCT đã không thể hiện được tính chất này. Điều này có thể dẫn tới cách hiểu sai về SN DN.

Tức là chỉ hiểu về hoạt động này theo tên gọi (SN) theo đúng quan niệm của người VN về từ SN thông thường. Trong khi đó, đây phải là một khái niệm pháp lý dựa trên thực tiễn thương mại, đặt trong bối cảnh chung của thương mại quốc tế cùng với những kinh nghiệm tài chính quốc tế về hoạt động SN & mua lại (merger and acquisition) mà các quốc gia khác đã thực hiện hàng trăm năm qua.  Trong thời đại kinh doanh năng động hiện nay, những thương nhân, bằng kinh nghiệm thương trường của mình, có thể tạo ra những cách thức kinh doanh rất biến hoá nhằm hợp thức hoá các hành vi kinh doanh, mà nếu chỉ dựa vào sự quy định mang tính đóng (tức là chỉ mô tả hành vi một cách trực tiếp như cách quy định tại điều 17.1 LCT mà không cần xét tới tính mục đích của hành vi), thì vô hình chung, PL đã tạo ra một kẽ hở không đáng có. Điều này dẫn tới hiện tượng, có vô số những hành vi về bản chất là hoạt động SN, thực hiện tập trung kinh tế, nhưng xét theo định nghĩa của LCT thì không chịu sự điều chỉnh của những quy chế về tập trung kinh tế.

 Khi án lệ chưa được coi là một nguồn của PL như ở VN, việc có một định nghĩa pháp lý rộng rất có ý nghĩa với cơ quan quản lý. Nó được coi như một sự bù đắp cho những thiếu hụt kể trên, cũng như là một biện pháp ngăn chặn từ xa để đối phó với tình trạng PL chưa theo kịp sự phát triển của thương trường như tại VN. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com  Quy định về SN như điều 91 Luật cạnh tranh Canađa đã đáp ứng đầy đủ tiêu chí của một quy phạm PL: vừa xét cả ở tính mô tả hành vi, vừa bao quát được tính mục đích của hành vi mà các chủ thể thực hiện. Đây cũng là khuynh hướng lập pháp ở nhiều nơi trên thế giới là: đảm bảo sự thoả mãn về cả mặt hình thức và nội dung của một hành vi pháp lý để sự điều tiết của nhà nước là thực chất.

 Tiếp tục xét đến kỹ thuật lập pháp thì cách định nghĩa về SN kể trên đã tạo tiền đề lập pháp cho sự điều tiết của PL về SN đối với các hành vi nhằm thực hiện mục đích SN. Theo đó, các hành vi nhằm thực hiện mục đích SN, ngoài việc chịu sự điều chỉnh PL đối với chính hành vi đó, còn luôn phải chịu sự điều chỉnh tối cao của PL đối với SN theo đúng mục đích cuối cùng mà hành vi đó hướng tới. Điều này cũng tương xứng với tính chất tiền kiểm đối với hoạt động SN. Trong khi đó, điều 17.1 LCT không thể hiện được tiền đề lập pháp này.

Theo đó, những hành vi nhằm thực hiện mục đích SN sẽ không chịu sự điều chỉnh của PL về SN và chỉ khi hành vi SN được thực hiện với đầy đủ sự mô tả về hình thức của nhà làm luật thì cơ chế điều chỉnh PL SN mới diễn ra. Tính chất tiền kiểm đối với SN do đó khó khả thi trên thực tế. Đoạn trích sau đây sẽ làm rõ nhận định này: Bà Trần Phương Lan - Trưởng ban Giám sát và Quản lý cạnh tranh (Cục Quản lý cạnh tranh) cho biết:"Có thể lý do mà các DN chưa thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm này là do bản thân họ chưa quan tâm đến pháp luật về cạnh tranh và còn nghĩ rằng, Luật Cạnh tranh chưa điều chỉnh đến vụ việc của họ nên không nhất thiết phải thông báo với các cơ quan quản lý. Còn các cơ quan quản lý nhà nước không thể nào đủ nguồn lực giám sát được tất cả các hoạt động với nhiều quy mô, phạm vi khác nhau" Nhiều DN cũng thừa nhận rằng bản thân họ còn rất "mù mờ" về vấn đề M&A, không nắm rõ được vấn đề trong khi đó các Cty tư vấn M&A của VN, còn thiếu và yếu nên dẫn đến tình trạng DN không biết xoay xở và gõ cửa nào trong các hoạt động mua bán của mình để tìm một lời khuyên bổ ích [59] 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com  Nếu áp dụng điều 17.1 LCT thì chỉ những hành vi “chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp” mới bị coi là SN.

Liệu Nhà nước sẽ ứng xử thế nào nếu DN về mặt hình thức chỉ chuyển một phần tài sản (chẳng hạn như bằng con đường hợp thức hoá sổ sách kế toán), nhưng về bản chất là chuyển toàn bộ tài sản cho một DN khác? Câu hỏi này không thể được giải đáp bởi định nghĩa SN mang nhiều tính cơ học theo LCT VN 2005.  Và cuối cùng, quan niệm về hoạt động SN rộng là phù hợp với thông lệ chung của thế giới. Điều này có ý nghĩa xã hội thực tiễn rất lớn, khi nguồn vốn đầu tư nước ngoài đổ vào VN bằng con đường mua bán SN DN ngày một nhiều hơn. Nếu không hiểu SN theo cách mà những thương nhân nước ngoài vẫn thực hiện thì e rằng, việc điều chỉnh, giám sát hành vi này của nhà quản lý VN đối với đội ngũ thương gia giàu kinh nghiệm trên sẽ bị vô hiệu hoá hoàn toàn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ