CHƯƠNG 1. NHUNG VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE THỰC HIỆN CƠ CHÉ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM, VỀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN CỦA CÁC TỎ CHỨC KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 1. Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm : 1. Các khái niệm liên quan: a.Tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tô chức khoa học và công nghệ - Tự chủ, tự chịu trách nhiệm: là quyền được chủ động, sáng tạo về nhiệm vụ, tài chính và tài sản, tổ chức và biên chế và trách nhiệm với các vấn đề trên của thủ trưởng các tô chức khoa học và công nghệ công lập.
- Tổ chức khoa học và công nghệ: là các tô chức nghiên cứu khoa học, tô chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tô chức địch vụ khoa học và công nghệ có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, do cơ quan quản lý Nhà nước có thâm quyền quyết định thành lập. Thông tin khoa học công nghệ - Thông tin khoa học và công nghệ là các đữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức khoa hoc và công nghệ (bao gôm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu câu của tổ chức, cá nhân trong xã hội. - Hoạt động thông tin khoa hoc và công nghệ là hoạt động nghiệp vu vỀ fìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ, pho biến thông tin khoa học va công nghệ; các hoạt động khác có liên quan trực tiếp và phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ thông tin khoa học và công nghệ. - Tài liệu là dạng vật chất ghi nhận những thông tin dưới dạng văn bản, âm thanh, đô hoạ, hình ảnh, phim, video nhằm mục đích bảo quản, phổ biến và sử dụng.
- Vật mang tin là phương tiện vật chất dùng dé lưu giữ thông tin gồm giấy, phim, băng từ, đĩa từ, đĩa quang và các vật mang tin khác. 12 - Nguồn tin khoc học và công nghệ bao gôm sách, báo, tạp chi, cơ sở dữ liệu, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ khoa học khoa học công nghệ, tài liệu sở hữu trí tuệ, tài liệu về tiêu chuẩn, đo luong, chat lượng, luận văn, luận án sau dai hoc và các nguôn tin khác được tô chức, cá nhân thu thập. - Tổ chức dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ là dơn vị sự nghiệp thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thành lập theo quy định của pháp luật. Ý nghĩa của van dé tự chủ, tự chịu trách nhiệm : Một trong những đặc điểm nổi bật của xu hướng mới trong KH&CN hiện nay có ảnh hưởng tới tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tô chức Kh&CN là mối liên kết giữa nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển.
Quá trình từ phát minh khoa học đến sáng chế, phát triển công nghệ và đưa vào sử dụng trong sản xuất ngày cảng rút ngắn. Gắn bó chặt chẽ giữa hoạt động KH&CN với hoạt động sản xuất đòi hỏi các tổ chức nghiên cứu nói chung phải chủ động 'mở rộng quan hệ với doanh nghiệp, phải năng động trước các diễn biến của đời sống kinh tế và điều đó chỉ có thé thực hiện được đúng với việc tăng cường quyên tự chủ, thái độ tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN. Ngoài việc tăng cường quyền tự do, tự chủ trong nghiên cứu KH&CN và phát huy các kết quả nghiên cứu KH&CN, ý nghĩa khác của tự chủ, tự chịu trách nhiệm còn là nâng cao đời sống của các nhà KH&CN. Cần nhắn mạnh đến đời sống của nhà KH&CN là bởi vì mức thu nhập quá thấp đang khiến cho nhiều cán bộ nghiên cứu không muốn gan bó với công việc của mình với tổ chức KH&CN.
Đời sống cũng là nguyên nhân chính làm cho các đơn vị KH&CN không thu hút được người giỏi vào làm việc. Thực ra, đảm bảo lợi ich của nhà KH&CN là van đề từng đợc công khai dé cập tới từ lâu, chăng hạn, trên Tạp chí hoạt động Khoa học số 7/1988, các tác giả Nguyễn Điền và Ngô VI Khoát (Viện công cụ cơ giới hóa nông nghiệp, nay là Viện cơ điện ! Điều 2 Nghị định số 159/2004/NĐ-CP về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ. 13 nông nghiệp) đã xác định rõ hai mục tiêu của viện nghiên cứu là: “. Muc tiéu hàng đâu là mỗi hoạt khoa học kỹ thuật của viện nghiên cứu phải xuất phát và nhằm phục vụ cho yêu cầu của sản xuất, thúc day khoa häc kỹ thuật di vào sản xuất, làm lợi cho sản xuất; mục tiêu thứ hai là làm lợi cho người lao động khoa học kỹ thuật, bao gốm cả cả nhân và tập thể đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật được bôi dưỡng và dau tư theo chiều sâu dé lao động chất xám sáng tao không ngừng”.
Sở di sau nhiễu năm mục tiêu nâng cao đời sống của các nhà KH&CN tiếp tục được nhấn mạnh là do mức sống và các chính sách có liên quan tới lợi ích của họ vẫn chưa có những thay doi đáng kể. Có thể nói tự chủ sẽ buộc các tô chức tự chịu trách nhiệm về khả năng hoạt động của mình. Đồng thời, sau một thời gian thiết lập tràn lan các tô chức KH&CN thuộc Nhà nước, lúc này cần rà soát lại xem những đơn vi nao cần giữ lại thuộc Nhà nước và những đơn vị có thé chuyển sang thành phan kinh tế khác. Qua những phân tích trên, có thể rút ra một số định hướng quan trọng cho nghiên cứu nội dung tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tô chức KH&CN: - Tự chủ tự chịu trách nhiệm của các tô chức là nhằm vào các mục tiêu cụ thé về : giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, đáp ứng những thay đổi trong chính sách KH&CN, đáp ứng xu hướng phát triển mới của KH&CN.
- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm là một tất yếu khách quan, nhưng cũng là những tình huống phụ thuộc vào hoàn cảnh (không gian và thời gian) nhất định. Tự chủ tự chịu trách nhiệm không phải là một chế độ được xác lập theo tính chất "từ không đến có" và nhất thành bat biến, mà chủ yếu là các động thái biến đổi, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng. - Nhìn chung các tổ chức KH&CN cần tăng cường tự chủ trên cả 2 mặt : giảm những loại tổ chức KH&CN mang tính phụ thuộc cao, đồng thời tăng mức độ 14 tự chủ ở mọi loại hình tổ chức KH&CN. Nói một cách khác là tăng tự chủ ở mọi loại và tăng loại có khả năng tự chủ cao.
Vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức NC&PT nhà nước theo một số đánh giá, kinh nghiệm của nước ngoài : Hoạt động của các tổ chức NC&PT có liên quan đến nhiều mặt về hoạt động KH&CN, tài chính, quản lý nhân sự, quan hệ quốc tế. Tự chủ, tự chịu trách nhiệm diễn ra trên tất cả các mặt đó; tự chủ trong các hoạt động thuộc khuôn khổ Nhà nước (nhiệm vụ của Nhà nước giao, kinh phí nhà nước cấp.), tự chủ trong hoạt động ngoài khuôn khổ nhà nước, quan hệ giữa tự chủ (quyền) va tự chịu trách nhiệm (nghĩa vụ), cách thức giải quyết những mâu thuẫn đặt ra. Về nhiệm vụ KH&CN: Liên quan tới tự chủ của các tổ chức NC&PT nhà nước có thé chia thành 3 loại nhiệm vụ. Loại nhiệm vụ thứ nhất là những công việc được Nhà nước giao cụ thể và trực tiếp.
Ví dụ như một số vấn đề cấp bách đã được xác định rõ về đối tượng nghiên cứu trong quốc phòng, phòng chống thiên tai, phát triển kinh tế-xã hội.Với loại nhiệm vụ này, tổ chức NC&PT chỉ là người lĩnh hội và thực hiện nhiệm vụ trên giao. Loại nhiệm vụ thứ hai là các chủ đề nghiên cứu trong chức năng hoạt động của tổ chức (đã được Nhà nước quy định). Trong một phạm vi khá rộng, việc nghiên cứu có quyền và phải tự chịu trách nhiệm lựa chọn ra các vấn đề làm nhiệm vụ khoa học và công nghệ cụ thể. Đối với một số nhiệm vụ được Nhà nước giao trực tiếp nhưng chỉ có tính chất định hướng, viện nghiên cứu cũng phải tự cụ thé hoá, xác định rõ các van đề can tập trung giải quyết.
Nhìn chung, mức độ tự chủ của loại nhiệm vụ thứ hai cao hơn nhiệm vụ thứ nhất, nhưng giới hạn về tự chủ ở loại này cũng rất rõ ràng, Ngoài giới hạn lĩnh vực, phạm vi xác định đề tài theo chức năng và theo nhiệm vụ định hướng do Nhà nước giao trực tiếp, thông thường các kế hoạch nghiên cứu của đơn vi còn phải được Nhà nước xét duyệt một cách chặt chẽ.vn/Nguyén n/N, Dién Điền & Ngo gô Vi Vi Khoát, Khoát, Tạp Tạp chch íí hoạt hoạt động động khoa khoa học học thang tháng 7. 15 Loại nhiệm vụ thứ ba là các hợp đồng mà tổ chức NC&PT ký kết thực hiện với bên ngoài. Lựa chọn những hợp đồng nào hoàn toàn thuộc quyền tự chủ của các đơn vị trên cơ sở vận dụng các quy luật của kinh tế thị trường. Một số nghiên cứu của Nhà nước được mang ra đấu thầu cũng thuộc loại nhiệm vụ thứ ba, bởi vậy đơn vị có thể toàn quyền quyết định có tham gia đấu thầu hay không và tham gia vào chương trình nào.
Vẻ tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu Nếu như ở khâu xác định nhiệm vụ nghiên cứu có khác nhau nhất định về mức độ độc lập, tự chủ giữa 3 loại nhiệm vụ thì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu lại có xu hướng chung tôn trọng tinh chủ động của tổ chức. Các tổ chức NC&PT tự do xác định phương pháp nghiên cứu, tự do huy động và bồ trí các nguồn lực phục vụ cho nghiên cứu. Tổ chức NC&PT thường có quyền tự do liên doanh, liên kết với bên ngoài, được thành lập các doanh nghiệp khoa học như Spin of trên cơ sở các kết quả nghiên cứu ra. Các đơn vị cũng có thé tự thay đổi t6 chức, cơ câu bên trong nhưng không được có biểu hiện xa rời nhiệm vụ chức năng được giao.
Về sử dụng truyễn bá kết quả nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu là sản phẩm của việc sử dụng các nguồn lực tự huy động của tổ chức NC&PT sẽ thuộc toàn quyền sử dụng của đơn vị.