Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI 5 LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 1. Hội Liên hiệp Phụ nữ và công tác Hội 1. Khái niệm Hội Liên hiệp Phụ nữ Theo Điều lệ Hội LHPN Việt Nam thì “Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (tên tiếng Anh là Vietnam Women’s Union, viết tắt VWU) là tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam; mục đích hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ.
Hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Liên đoàn phụ nữ Dân chủ quốc tế và Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN. Hội tham gia tích cực trong các hoạt động vì hòa bình, đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới”. Hội LHPN Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc “tự nguyện, dân chủ, liên hiệp, thống nhất hành động”. Cơ quan lãnh đạo Hội LHPN các cấp do bầu cử lập ra, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Hội LHPN Việt Nam chia thành các cấp: “- Cấp Trung ương; - Cấp Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương (gọi chung là cấp tỉnh); - Cấp Huyện, quận, Thị xã, Thành phố trực thuộc Tỉnh và tương đương (gọi chung là cấp huyện); - Cấp Xã, phường, thị trấn và tương đương (gọi chung là cấp cơ sở). Bộ phận chuyên trách của Hội cấp Trung ương, tỉnh, huyện là nơi tham mưu, hỗ trợ, giúp việc cho Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch hoặc Ban Thường vụ cùng cấp.” Sau khoảng 80 năm thành lập, xây dựng và phát triển, Hội Liên hiệp phụ 6 nữ Việt Nam trải qua 12 kỳ Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc. Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XII (nhiệm kỳ 2017-2022) khai mạc vào ngày 07/3/2017 với chủ đề “Đoàn kết - Đổi mới - Bình đẳng - Hội nhập” với 1.153 đại biểu tham dự, là những người đại diện cho các dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp phụ nữ với nhiều độ tuổi, ngành nghề công tác tại khắp mọi miền khác nhau trên cả nước. Chức năng, nhiệm vụ của Hội Liên hiệp Phụ nữ Hội Liên hiệp Phụ nữ có chức năng, nhiệm vụ sau: “Về chức năng: - Đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước.
- Đoàn kết, vận động phụ nữ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận động xã hội thực hiện bình đẳng giới. Về nhiệm vụ: - Tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, lối sống; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; - Vận động các tầng lớp phụ nữ chủ động, tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; vận động, hỗ trợ phụ nữ nâng cao năng lực, trình độ, xây dựng gia đình hạnh phúc; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; - Tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, gia đình và trẻ em; - Xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh; - Đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ trong 7 khu vực và thế giới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình”. Vị trí của Hội Liên hiệp Phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình Chiếm 50,6% dân số trong cả nước và có khoảng 48,3% là lực lượng lao động (Tổng cục thống kê, 2017), phụ nữ Việt Nam đã và đang có những đóng góp hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước. Điều này đã được khẳng định trong “báo cáo Hội nghị thượng đỉnh phụ nữ” diễn ra tại Hà Nội vào năm 2008 cũng như trong “báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Hội LHPN Việt Nam tại Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XII” (Hội LHPN Việt Nam, 2017).
Phụ nữ ngày càng có vai trò và thế mạnh trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại các khu vực nông thôn do phụ nữ chiếm 50,2% lực lượng lao động nông lâm nghiệp và đang có nhiều đóng góp tích cực cho các phong trào xây dựng nông thôn mới; phụ nữ hỗ trợ nhau, cùng nhau phát triển kinh tế hộ gia đình, cũng nhau giảm nghèo, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế vùng nông thôn. Để có được những đóng góp quan trọng đó thì không thể không nhắc tới vai trò hết sức quan trọng của hội LHPN ở các địa phương trong việc tổ chức các phong trào, các hoạt động thi đua, tuyên truyền, hỗ trợ. Từ đó, nhận thức người phụ nữ được nâng cao và phát huy vai trò của họ trong phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương (Tạp chí khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 2018). Khái niệm về hộ gia đình, kinh tế hộ gia đình 1.
Hộ gia đình Theo “từ điển ngôn ngữ Mỹ” thì: “Hộ là tất cả những người sống chung trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm người chung huyết tộc và những người làm ăn chung”. Luật Đất đai quy định “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được 8 Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất” (Luật đất đai, 2013). Còn trong Bộ Luật dân sự, khái niệm Hộ gia đình không được định nghĩa một cách chính thức, mà chỉ khẳng định Hộ gia đình có thể là chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này” (Luật Dân sự, 2005).
Theo Luật hôn nhân và gia đình “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định”. Như vậy, có nhiều quan điểm về hộ gia đình, tuy nhiên có thể nói chung “hộ gia đình là tập hợp những người có quan hệ vợ chồng, họ hàng huyết thống, cùng chung nơi ở và một số sinh hoạt cần thiết khác như ăn, uống…”. Tuy nhiên, trong thực tế xã hội cũng có một số trường hợp đặc biệt như có thành viên trong hộ gia đình cùng sinh hoạt chung nhưng không có họ hàng huyết thống. Kinh tế hộ gia đình Từ khi Bộ chính trị ban hành “Nghị quyết số 10/NQ-TW năm 1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, với mục đích “giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn chuyển giao đất đai và các tư liệu sản xuất khác cho hộ nông dân quản lý và sử dụng lâu dài”, thì các hộ nông dân đã tự mình thực hiện các hoạt động trong sản xuất nông nghiệp, tức là thừa nhận hộ gia đình là “đơn vị kinh tế cơ sở” (gọi là kinh tế hộ gia đình).
Từ đó, các hộ gia đình tự mình thực hiện mọi hoạt động trong quá trình sản xuất kinh doanh, toàn quyền quyết định trong việc sản xuất, mua sắm vật tư kỹ thuật, sử dụng lao động, hợp tác 9 kinh doanh sản xuất và bán các sản phẩm do họ làm ra (Mai Thị Thanh Xuân và Đặng Thị Thu Hiền, 2013). “Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là chung để tiến hành sản xuất. Có chung ngân quỹ, ở chung nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển”. Từ các phân tích trên, có thể hiểu “Kinh tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định”.
Như vậy, sự phát triển và tồn tại của kinh tế hộ gia đình là phụ thuộc vào lao động của gia đình, họ cùng nhau khai thác nguồn tài nguyên và đất đai mình sở hữu nhằm phát triển sản xuất, nâng cao mức sống. Một đặc tính của kinh tế hộ gia đình là họ không có tư cách pháp nhân; chủ hộ là người sở hữu, nhưng đồng thời là người trực tiếp lao động, tùy và từng hoàn cảnh và điều kiện họ có thể thuê mướn thêm lao động. Do đặc thù chung của các hộ gia đình là thường có vốn ít, không tập trung vào ngành nghề cụ thể hoặc sản xuất với quy mô nhỏ… nên kinh tế hộ có tính ổn định không cao. Kinh tế hộ gia đình đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế ở nông thôn.
Bởi đây là nơi chứa đựng nhiều nguồn nhân lực và nguồn lực để phát triển. Họ nắm giữ và sở hữu các tài sản, tư liệu sản xuất và các nguồn thu nhập. Do vậy, kinh tế hộ là nhân tố chủ yếu trong kinh tế nông nghiệp nông thôn tại mọi thời đại và phát triển kinh tế hộ là điều cần thiết và tất yếu để phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Phát triển kinh tế hộ gia đình Phát triển là một quá trình, là “tổng hòa các hiện tượng được quan niệm như chuỗi nhân quả kế tiếp nhau diễn tiến”.
Như vậy có thể hiểu “phát triển kinh tế là quá trình chuyển biến mọi mặt của nền kinh tế trong thời gian xác định, nó bao gồm sự tăng thêm về sản lượng và sự tiến bộ cơ cấu kinh tế, xã hội.