Phần mở đầu, Phần kết luận và Thư mục tham khảo, luận văn gồm ba chương: Chương một: Những tiền đề lí luận của đề tài Chương hai: Khảo sát và đánh giá việc dạy và học Tấm Cám theo chương trình thí điểm ở trường THPT. Chương ba: Phương hướng dạy học Tấm Cám từ việc nhận thức về vai trò và tác dụng của yếu tố thần kì. 8 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG MỘT. NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI I.
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN. Văn chương bao giờ cũng là sản phẩm của tâm hồn, của trái tim và khối óc người sáng tác. Văn chương có sức tác động sâu sắc đến bạn đọc, đến cuộc sống con người. Trong nhà trường, so với các môn học khác, môn văn vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật lại có khả năng bồi dưỡng và phát triển tư duy thẩm mĩ cho học sinh một cách hiệu quả nhất.
Do vậy,việc tìm ra phương pháp dạy học thích hợp là hết sức cần thiết. Hơn nữa, trước yêu cầu mới của xã hội, trước “Sự tiến bộ kì diệu của khoa học kĩ thuật, số liệu các tri thức cần lĩnh hội tăng lên một cách ghê gớm, đòi hỏi chúng ta phải thay đổi căn bản cả nội dung giáo dưỡng lẫn phương pháp dạy – học. Phương pháp dạy học phải nhằm phát triển tối đa sự suy nghĩ độc lập của học sinh, kỹ năng đạt đến tối đa sự suy nghĩ độc lập của học sinh, kỹ năng đạt đến và vận dụng tri thức”.Xmianôp –Liên Xô cũ). Đây không phải là vấn đề riêng của nước ta mà là vấn đề đang được quan tâm ở mọi quốc gia trong chiến lược phát triển nguồn lực con người phục vụ các mục tiêu kinh tế – xã hội Tóm lại, từ những vấn đề trên đã đặt ra một yêu cầu cấp bách là phải ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN.
Đổi mới phương pháp dạy học văn nói chung “Đổi mới phương pháp dạy học văn chính là đổi mới việc đánh giá mối quan hệ giữa ba thành tố: Giáo viên – học sinh – văn bản văn chương. Đó là mối quan hệ biện chứng nhằm tạo thành cơ chế dạy học văn. Vì thế nếu thiếu đi một thành tố nào thì cơ chế dạy – học lập tức bị phá vỡ và cách dạy lại quay trở về lối cũ”. Phương pháp dạy học văn truyền thống Trong cơ chế dạy học văn cũ, mối quan hệ giữa các thành tố của cơ chế là mối quan hệ đơn phương: giáo viên – tác phẩm, giáo viên – học sinh hay tác phẩm – học sinh.
Trong cơ chế này, giáo viên đóng vai trò chủ đạo. Giáo viên là người khám phá cảm thụ tác phẩm rồi truyền thụ cho học sinh. Học sinh tiếp thu bài học thụ động ghi nhớ máy móc theo kiểu “học thuộc lòng”. Hệ thống phương pháp dạy học văn học truyền thống mang nặng bản chất tái hiện khiến học sinh thụ động trong quá trình lĩnh hội tri thức; Theo Phan Trọng Loan thì có dùng nhiều thuật ngữ: “diễn giải”, “thuyết trình” hay “giảng thuật”… thì vẫn là một dạng dựa trên bài giảng được chuẩn bị trước của giáo viên.
Nguồn kiến thức chỉ đóng khung trong vốn hiểu biết của người thầy. Giáo viên đã từng “che khuất” mất tài liệu giảng dạy, ít cho học sinh tiếp xúc trực tiếp và tự tìm kiếm kiến thức. Với cách dạy văn đã quá lỗi thời, phiến diện hoá,đơn phương hoá, với cách học văn mà học sinh chỉ đóng vai trò “thính giả”, “người ngoài cuộc” hơn là “người tham gia”…hậu quả cuối cùng dễ nhận thấy học sinh trở thành người thụ động,thiếu sáng tạo,ít cảm xúc,ít đồng cảm. Muốn tạo sự phát triển trong dạy học văn thì nhiệm vụ cần thiết và cấp bách là phải: đổi mới phương pháp dạy học văn.
Sự đổi mới trong phương pháp dạy học văn Theo Phan Trọng Luận: “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương mới đổi khác về mục đích, về con đường đạt đến mục đích, do đó cũng đổi khác về cơ chế hoạt động dạy học cùng hàng loạt vấn đề về tiến trình tổ chức giờ dạy, phương pháp tiếp cận tác phẩm ở học sinh” [20. Nếu mục đích của giờ học tác phẩm văn theo phương pháp cũ là giáo viên truyền thụ lời giảng của mình, thì mục đích cao nhất trong phương pháp dạy văn mới là làm sao để phát huy tính chủ thể của học sinh dưới sự hướng dẫn của thầy. Trong cơ chế dạy văn mới, quan hệ giữa các thành tố: tác phẩm – giáo viên – học sinh là mối quan hệ đa phương, đan kết lên nhau. Văn bản 10 là đối tượng để phân tích, cảm thụ.
Giáo viên đóng vai trò chỉ đạo. Học sinh đóng vai trò trung tâm của quá trình dạy và học, chủ động tham gia vào quá trình nhận thức. Con đường đạt đến hiệu quả tự phát triển là sự vận động tự thân của mỗi chủ thể học sinh. Vấn đề quan trọng của cơ chế dạy học văn mới là vấn đề phát huy chủ thể học sinh: “Học sinh vừa là mục tiêu, vừa là con đường, vừa là phương tiện”.
Và dạy học văn là: “phải từ học sinh, cho học sinh và bằng chính học sinh”. Do đó trong dạy học văn không được giữ cách giảng dạy tái hiện, giảng dạy thông tin tiếp thụ, giảng dạy đơn thuần bằng lời nói của giáo viên, mà phải chuyển sang lối giảng dạy tái tạo, giảng dạy phát triển, tổ chức một hệ thống thao tác hoạt động chiếm lĩnh tác phẩm của bản thân học sinh, để học sinh được tự rung cảm, khám phá và tự phân tích. Mỗi giờ học phải trở thành “một sự kích thích dài”, phải gây được “sự nổ vỡ lặng im trong tâm tưởng, làm bùng cháy một cái gì đó để con người đi tới chính mình trong tâm tưởng” (Nguyễn Viết Chữ). Như vậy “phương pháp không còn là những phương thức tác động từ bên ngoài mà là phương thức vật chất hoá hoạt động bên trong của học sinh.282] Quan điểm coi học sinh là chủ thể và là khởi đầu của sự sáng tạo chắc chắn sẽ dẫn đến sự thay đổi phương pháp giảng dạy.
Giáo viên phải vật chất hoá hoạt động của mình bằng một hệ thống phương pháp giảng dạy thích hợp như đọc diễn cảm, so sánh trong phân tích văn học, phân tích nêu vấn đề, phương pháp gợi mở, phương pháp giảng bình. Trong những năm vừa qua, quan điểm này đã được đưa vào trong nhà trường, được công nhận và khẳng định tính đúng đắn của nó. Tuy nhiên cần tránh sự vận dụng cứng nhắc, máy móc các phương pháp nêu ra. Và vấn đề quan trọng đặt ra hiện nay là phải từ quan điểm đúng đắn về cơ chế dạy học văn, sử dụng các phương thích hợp để đạt được mục đích đưa học sinh lên vị trí chủ thể của quá trình nhận thức.
Đổi mới phương pháp dạy học truyện cổ tích thần kì nói riêng Cần phải khẳng định ngay rằng sự đổi mới phương pháp dạy học truyện cổ tích thần kì không nằm ngoài sự đổi mới phương pháp dạy học 11 văn nói chung (như vừa nêu). Việc làm của người viết ở đây là đi từ sự đổi mới chung đến sự đổi mới cụ thể – đổi mới về phương pháp đối với truyện cổ tích thần kỳ nói riêng- một vấn đề liên quan chặt chẽ đến đề tài của người viết. Dạy học văn là dạy một loại hình nghệ thuật vì vậy phải khám phá thế giới đó bằng những quy luật nghệ thuật của chính nó. Trước đây do chưa nắm vững nguyên tắc này nên việc dạy học Văn học dân gian nói chung, truyện cổ tích thần kì nói riêng chưa được hiệu quả thiết thực (thậm chí còn mắc phải nhiều sai lầm).
Phổ biến nhất (đặc biệt là ở bậc trung học cơ sở) là cách dạy dễ dãi, đơn giản hoá tác phẩm văn học dân gian. Chẳng hạn dạy truyện cổ tích thần kỳ mà chia nhân vật cổ tích thành hai tuyến chính nghĩa và gian và rồi phân tích một cách sơ lược, công thức theo lối xã hội học dung tục… Việc đồng nhất giữa văn học dân gian và văn học viết, dạy văn học dân gian như dạy văn học viết đã dẫn đến việc hiện đại hoá tác phẩm văn học dân gian , tước bỏ đi sắc thái phôncơlo vốn là vẻ đẹp độc đáo và ý vị nhất của những truyện kể. Dạy truyện cổ tích thần kì mà dạy từ con mắt của người hiện đại, dạy như tác phẩm văn học viết thì chẳng những không khai thác được những giá trị nổi bật của truyện mà còn hiểu sai, dạy sai tác phẩm. Như vậy, do chưa có phương pháp tiếp cận đúng đắn một tác phẩm dân gian (cụ thể là truyện cổ tích thần kì), hiểu chưa đúng, hiểu sai tác phẩm dẫn đến lúng túng trong phương pháp giảng dạy.
Giờ dạy vì thế rất dễ hoặc thiên về nội dung tư tưởng, chính trị một cách gò bó, cứng nhắc, hoặc thiên về hình thức nghệ thuật, ngôn ngữ một cách phiến diện, trống rỗng. Để khắc phục những hạn chế trên “ cách dạy khoa học nhất là cách dạy theo quan điểm thi pháp học”[18. Dạy văn học dân gian theo thi pháp Văn học dân gian, dạy truyện cổ tích phải đảm bảo những đặc trưng thi pháp loại thể. Truyện cổ tích là một thể loại lớn của văn học dân gian, gồm ba biến thể: Truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt, truyện cổ tích về loài vật.
Trong đó, truyện cổ tích thần kỳ là biến thể tiêu biểu hơn cả 12 Đặc điểm bao trùm và nổi bật của thi pháp truyện cổ tích là “thế giới cổ tích”- Một sáng tạo độc đáo của trí tưởng tượng dân gian. Để tạo nên một thế giới “như mơ ước”, ở đó người bất hạnh được hưởng hạnh phúc tuyệt đỉnh, chính nghĩa tất yếu thắng gian tà, truyện cổ tích đã phải nhờ đến các yếu tố thần kì: nhân vật thần kì (Tiên, Bụt), vật thần kì (gậy thần, cây đàn thần), con vật thần kì (chim thần, ngựa thần) hay sự biến hoá của chính nhân vật. Tính chất hoang đường và tưởng tượng trong cổ tích không giống tưởng tượng trong thơ ca. Nó tạo nên tính chất kì lạ, khác thường cho câu chuyện kể.
Điều này đã làm nên “thế giới cổ tích” với chất thơ bay bổng, với sức cuốn hút kì diệu của nó - khôngchỉ với trẻ thơ mà với cả người lớn, đem lại cho con người hứng thú, niềm tin và ước mơ. Dạy truyện cổ tích thần kì điều quan trọng nhất là phải nhấn mạnh, phải làm nổi bật vẻ đẹp của “thế giới cổ tích” huyền ảo tức phải khai thác thật sâu vẻ đẹp của yếu tố thần kì trong truyện.