Chương 1 trình bày lí do thực hiện đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và kết cấu của luận văn cũng được trình bày trong phần này. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này giới thiệu các lý thuyết về sự tương quan giữa vốn con người và kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua vai trò trung gian của sự tiếp cận nguồn lực. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra mô hình nghiên cứu lý thuyết và các giả thuyết áp dụng tại Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu Chương này giới thiệu trình tự nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu được ứng dụng. Hơn nữa, đề tài trình bày cách thức lấy mẫu, quy trình xử lý dữ liệu nghiên cứu, đánh giá mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu Chương 4 giới thiệu mẫu nghiên cứu chính thức. Ngoài ra, quy trình phân tích dữ liệu gồm có: đánh gia thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích yếu tố EFA, đánh giá mô hình lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu.
Kết luận và hàm ý cho nhà chính sách Chương 5 kết luận lại kết quả nghiên cứu đạt được. Từ đó, đề tài tiến hành đưa ra các hàm ý chính sách về vai trò trung gian của vốn con người, trong sự tiếp cận nguồn lực của Doanh nghiệp khởi nghiệp đã đưa đến kết quả hoạt động kinh doanh như thế nào. Ngoài ra, nghiên cứu đưa ra một số hạn chế và đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. -11- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương 2, luận văn trình bày một số lý thuyết.
Một số khái niệm nghiên cứu trong mô hình lý thuyết cũng được đề cập. Từ lý thuyết nền và nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, luận văn xây dựng mô hình lý thuyết và phát triển giả thuyết nghiên cứu.1 Khái niệm nghiên cứu Dựa trên lý thuyết vốn con người, nghiên cứu này nhằm mục đích giải thích và xem xét ảnh hưởng vốn con người của doanh nhân (bao gồm cả kỹ năng quản lý và kỹ năng khởi nghiệp) thông qua các nguồn lực khởi nghiệp như một sự tiếp cận trung gian và đưa đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Khái niệm kết quả hoạt động kinh doanh Littunen & cộng sự (1998) định nghĩa kết quả hoạt động là sự tồn tại/sống sót qua 3 năm đầu và hoạt động liên tục sau khi khởi sự kinh doanh. Dựa vào quan điểm của GEM (2016); Littunen & cộng sự (1998), kết quả hoạt động được hiểu là sự tồn tại của DNKN trong giai đoạn khởi sự (dưới 3,5 năm), hoạt động ổn định liên tục và đạt được mục tiêu của nhà khởi nghiệp (doanh thu, lợi nhuận và thị phần như mong muốn).
Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng về các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Kết quả kinh doanh được biểu hiện bằng lãi (nếu doanh thu lớn hơn chi phí) và lỗ (nếu doanh thu nhỏ hơn chi phí) Để đưa đến việc kinh doanh có kết quả, vấn đề mà các doanh nghiệp quan tâm chính là hiệu quả kinh doanh. Sản xuất kinh doanh có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với phạm trù lợi nhuận, là hiệu số giữa kết -12- quả thu về với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Mà hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và kỹ năng quản lý của mỗi doanh nghiệp (PGS. Trương Bá Thanh, 2009). Các kết quả nghiên cứu hỗ trợ các liên kết tích cực từ các nhà quản trị về kỹ năng quản lý và kỹ năng khởi nghiệp để đổi mới mô hình kinh doanh thông qua vai trò trung gian trong việc tiếp cận các nguồn lực khởi nghiệp. Nghiên cứu khám phá vai trò hoạch định của việc tiếp cận để khởi động nguồn lực giữa vốn nhân lực của doanh nhân và đổi mới mô hình kinh doanh.
Ngoài ra, kết quả cung cấp giá trị thiết thực cho các doanh nhân trong việc nâng cao kỹ năng quản lý và kỹ năng khởi nghiệp nhằm tạo điều kiện tiếp cận với các nguồn hỗ trợ bên ngoài và thúc đẩy đổi mới mô hình kinh doanh. Tiếp cận các nguồn lực khởi nghiệp Dựa trên nguồn lực tiếp cận, “nguồn” được đề cập đến bao gồm tất cả các loại tài sản như tài chính, nguyên vật liệu, lao động, công nghệ và tổ chức. Nguồn lực khởi nghiệp không phải là sự kết hợp đơn giản của nhiều loại nguồn lực khác nhau, nhưng là một tập hợp các nguồn lực cốt lõi cho sự tồn tại của các doanh nghiệp khởi nghiệp. Nghiên cứu của Ju, Zhou và Wang (2019) đã xác định các nguồn lực khởi nghiệp bao gồm tài chính, nguyên vật liệu, công nghệ và nguồn lực con người.
Các nguồn lực này là thành phần quan trọng của nguồn lực khởi nghiệp. Theo quan điểm của Semrau và Werner (2014), các doanh nhân thường phải dựa vào các nguồn lực bên ngoài để thiết lập và phát triển thành công một dự án khởi nghiệp. Tiếp cận các nguồn lực khởi nghiệp bao gồm tiếp cận nguồn vốn tài chính, kiến thức, mối quan hệ và các thông tin bổ sung. Kĩ năng quản lý (managerial skill) Kỹ năng quản lý là một trong những kỹ năng quan trọng nhất của một nhà quản lý, bao gồm các kỹ năng liên quan đến quản lý con người (hay kỹ năng quản lý nhân sự), kỹ năng quản lý công việc, kỹ năng quản lý sản xuất… nhằm giúp cho doanh nghiệp có thể hoạt động một cách hiệu quả.
Quản lý có thể hiểu là việc quản trị của một tổ chức, cho dù đó là một doanh nghiệp, một tổ chức phi lợi nhuận hoặc một cơ quan chính phủ. Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức, một doanh nghiệp và điều phối các nỗ lực của nhân viên để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn lực sẵn có, như tài chính, vật chất, công nghệ và nhân lực.Taylor (1856 – 1915), “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và chi phí rẻ nhất” Theo Peter Drucker (1909-2005), cha đẻ của ngành Quản trị kinh doanh hiện đại cho rằng, kỹ năng quản lý của nhà quản trị bao gồm 4 điểm sau đây: Thứ nhất, đưa ra những quyết sách có hiệu quả. Thứ hai, trao đổi thông tin trong và ngoài tổ chức. Thứ ba, vận dụng công cụ kiểm tra, điều khiển và đánh giá.
Thứ tư, vận dụng công cụ phân tích một cách khoa học. Mặc dù không một nhà quản trị nào có thể nắm vững tất cả những kỹ năng này, nhưng mỗi nhà quản trị đều cần phải biết tất cả những kỹ năng quản lý cơ bản đó. Kĩ năng khởi nghiệp (entrepreneurial skill): Kỹ năng khởi nghiệp là khả năng biến ý tưởng thành hành động của một cá nhân. KNKN bao gồm sự sáng tạo, đổi mới và chấp nhận rủi ro, cũng như khả năng lập kế hoạch và quản lý các dự án để đạt được các mục tiêu.
-14- KNKN được coi là quan trọng để thúc đẩy sự đổi mới, khả năng cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế. Việc nuôi dưỡng ý tưởng kinh doanh sẽ hỗ trợ việc thành lập các công ty mới và tăng trưởng kinh doanh. Do đó, các kỹ năng khởi nghiệp cũng mang lại những lợi ích, bất kể người đó có dự định khởi nghiệp trong tương lai của họ hay không. Tố chất gì để nhận biết và tạo ra kỹ năng khởi nghiệp đã là chủ đề của rất nhiều thảo luận.
Không giống như các kỹ năng quản trị khác, kỹ năng khởi nghiệp không liên quan đến một nghề nghiệp, một khuôn phép hoặc năng lực, trình độ chuyên môn nào cụ thể. Mà thực chất, chỉ là áp dụng những kỹ năng “mềm” trong kinh doanh, đó là những kỹ năng cần thiết với tư duy của một người làm chủ trong công việc, giúp giai đoạn hòa nhập vào cuộc sống thực tế trở nên dễ dàng hơn. Một nghiên cứu mới đây về các nhà lãnh đạo của những doanh nghiệp khởi nghiệp hàng đầu trên thế giới hiện nay (Amazon, Starbucks, Google…) đã chỉ ra rằng để trở thành một trong số những nhà lãnh đạo thành công, bạn cần phải có được ít nhất 7 kỹ năng mềm thiết yếu (Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng làm việc nhóm, Kỹ năng thuyết phục, Khả năng tư duy sáng tạo, Khả năng linh hoạt, thích nghi với thay đổi môi trường, Kỹ năng quản lý thời gian và Kỹ năng quản lý vấn đề). Không phải chỉ có đầy đủ những kỹ năng chuyên môn và năng lực nghiệp vụ, mà còn cần sở hữu những đặc điểm tính cách, thái độ, hành vi ứng xử phù hợp trong môi trường kinh doanh.
Lý thuyết vốn con người trong hoạt động khởi nghiệp Một khi lý thuyết về vốn con người được áp dụng trong lĩnh vực khởi nghiệp, thì vốn con người sẽ đóng góp vào sự thành công của các doanh nhân theo nhiều cách khác nhau. Vốn con người rất quan trọng trong việc xác định -15- và tạo cơ hội kinh doanh, khám phá cơ hội kinh doanh, tích lũy kiến thức mới và tạo lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp mới. Trong nghiên cứu này, vốn con người được tiếp cận theo quan điểm của Becker (1964), cụ thể vốn con người, chủ yếu đề cập đến kỹ năng của doanh nhân. Kỹ năng của doanh nhân bao gồm kỹ năng quản lý và kỹ năng khởi nghiệp.
Theo Hisrich & Peters (2002), thuật ngữ “Khởi nghiệp” là “một quá trình tạo nên một thứ mới, có giá trị bằng việc cống hiến thời gian và các nỗ lực cần thiết, gánh chịu các rủi ro đi kèm về tài chính, tinh thần, xã hội và kết quả là nhận những phần thưởng về tiền bạc, sự thỏa nguyện cá nhân và độc lập” (Hisrich & Peters, 2002). Cá nhân khát khao tự làm chủ khi nhận ra khởi sự kinh doanh là một lựa chọn nghề nghiệp phù hợp và là con đường để đạt được những ý tưởng, mục tiêu và thành tựu cá nhân (Barringer & Ireland, 2010). Khởi nghiệp là một hành động có chủ đích (Henley, 2007). Khởi sự kinh doanh không phải một sự kiện, mà là một quá trình có thể mất hàng năm để phát triển và thực hiện (Choo & Wong, 2006).
Khi lý thuyết vốn con người được áp dụng trong lĩnh vực khởi nghiệp, vốn con người góp phần vào sự thành công của các doanh nhân (Unger, Rauch, Frese, & Rosenbusch, 2011).