CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Khái quát về Viện kiểm sát nhân dân Theo quy định tại Điều 107 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014, VKSND là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong bộ máy Nhà nước 1. Vị trí của Viện kiểm sát trong bộ máy Nhà nước Theo Hiến pháp năm 2013, VKSND là cơ quan nằm trong khối các cơ quan tư pháp, thực hiện hai chức năng chính là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Theo đó, VKSND là cơ quan Hiến định. Viện trưởng do Quốc hội trực tiếp bầu ra, nhiệm kỳ của Viện trưởng VKSND tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Viện trưởng VKSND tối cao phải xây dựng và báo cáo trước Quốc hội tại các kỳ họp; trong thời gian Quốc hội không họp, Viện trưởng VKSND Tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước khi có yêu cầu. Chế độ báo cáo công tác của Viện trưởng các Viện kiểm sát khác do luật định.
VKSND gồm VKSND tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Viện trưởng các Viện kiểm sát khác và của Kiểm sát viên do luật định. Chức năng của Viện kiểm sát trong bộ máy Nhà nước Trong bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan có hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, cụ thể: Hoạt động thực hành quyền công tố của VKSND trong tố tụng hình sự chính là việc VKS thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội. Hoạt động này được thực hiện ngay từ khi VKS tiến hành thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; thực hành quyền công tố và kiểm sát quá trình khởi tố, điều tra, truy tố; kiểm sát xét xử các vụ án hình sự.
VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm: Tất cả các hành vi phạm tội, người phạm tội đều phải được phát hiện, khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật. Việc khởi tố, điều tra, truy tố phải kịp thời, khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố phải được phát hiện kịp thời; khắc phục và xử lý nghiêm minh. Không có vùng cấm trong công cuộc đấu tranh và phòng chống tội phạm.
VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố thông qua công tác thực hành quyền công tố trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của cơ quan điều tra và cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra; trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; trong giai đoạn truy tố tội phạm của VKS và trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự của Tòa án. Nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân VKSND có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trên phạm vi cả nước. Ngoài ra, Viện KSND còn thực hiện một số công tác: Thống kê tội phạm; xây dựng pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; Đào tạo, bồi dưỡng; nghiên cứu khoa học; hợp tác quốc tế và các công tác khác để xây dựng VKSND. Chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự Ở Việt Nam, từ thời Pháp thuộc, Viện công tố đã được thành lập, mô hình này tiếp tục tồn tại sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 trong cơ cấu hệ thống tổ chức của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Hiến pháp năm 1946 tuy không đề cập đến Viện công tố nhưng trong cơ cấu của Toà án có các Công tố viên làm nhiệm vụ buộc tội nhân danh Nhà nước trước phiên toà trong các vụ án hình sự. Sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc, Viện công tố được tách ra khỏi Toà án nhưng trực thuộc Chính phủ và hình thành một hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập với Toà án từ Trung ương tới địa phương. Hoạt động chủ yếu của Viện công tố vẫn là hoạt động công tố trước Toà án. Sau này, do yêu cầu của công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, nên Hiến pháp năm 1959 đã định ra thêm một loại hình cơ quan Nhà nước mới trong bộ máy Nhà nước, đó là hệ thống cơ quan Viện kiểm sát.
Ngoài chức năng công tố, Viện kiểm sát các cấp còn thực hiện một chức năng thứ hai là kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 tuy có sửa đổi một số quy định về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, nhưng chức năng 12 công tố, vẫn giao cho Viện kiểm sát đảm nhiệm. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đều khẳng định VKSND có hai chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Như vậy, ở Việt Nam chức năng thực hành quyền công tố từ trước đến nay vẫn luôn được giao cho Viện kiểm sát thực hiện.
Trong lĩnh vực hình sự, Viện kiểm sát là chủ thể duy nhất được thực hành quyền công tố. Chức năng thực hành quyền công tố của VKSND thể hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội trong lĩnh vực hình sự, được thực hiện ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự. Các nhà khoa học về lịch sử Nhà nước và pháp luật cũng chỉ ra rằng, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật không phải chỉ xuất hiện sau Cách mạng tháng Mười Nga (1917) khi Lênin xây dựng Nhà nước Xô Viết - một Nhà nước kiểu mới, mà đã có từ thời Vua Pier Đệ nhất (1772), khi yêu cầu củng cố quyền lực của nhà Vua, nhu cầu cần có sự quản lý Nhà nước mạnh mẽ. Viện công tố ở Nga được nhìn nhận không chỉ là một cấu trúc quản lý thuận tiện, hợp lý mà trước hết là sức mạnh gắn kết Nhà nước, là nền tảng cho pháp chế thống nhất, là trật tự pháp luật.
Hoạt động chủ yếu của Viện công tố Nga lúc này là giám sát sự tuân thủ pháp luật trong Nhà nước, còn hoạt động buộc tội trước Toà án chỉ là một trong những chức năng của Viện công tố. Khi tiến hành kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, VKS có nhiệm vụ và quyền hạn kiểm sát việc khởi tố vụ án, kiểm sát các hoạt động điều tra và lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người 13 tham gia tố tụng, áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để loại trừ vi phạm pháp luật của cơ quan điều tra và những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng khác. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử vụ án dân sự, vụ án hành chính Trong hoạt động xét xử các vụ án dân sự Căn cứ BLTTDS năm 2015, Luật tổ chức VKSND và Quy chế công tác kiểm sát dân sự, khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự Viện kiểm sát nhân dân có các nhiệm vụ, quyền hạn sau: Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, VKSND có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1.
Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; 2. Kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự; 3. Kiểm sát việc Tòa án xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ; yêu cầu Tòa án xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự hoặc tự mình xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện quyền kháng nghị; 4. Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án; 5.
Kiểm sát kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; 6. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc; 7. Tham gia phiên tòa, phiên họp; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, phiên họp, người tham gia tố tụng tại phiên tòa, phiên họp; phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ việc tại phiên tòa, phiên họp; 14 8. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; 9.
Yêu cầu Tòa án cùng cấp hoặc cấp dưới chuyển hồ sơ vụ việc dân sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị; 10. Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật; 11. Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoãn thi hành bản án, quyết định của Tòa án để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khi thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; 12.