Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG PHÁP CHẾ Hiến pháp của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” (khoản 1 Điều 2 Hiến pháp 2013). Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi không ngừng tăng cường pháp chế XHCN và thực hiện mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều phải được quản lý bằng pháp luật. Vì vậy, việc củng cố và tăng cường công tác pháp chế là vấn đề cần thiết, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước tại Việt Nam. Hoạt động ngân hàng là một lĩnh vực hoạt động mang tính huyết mạch trong việc cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế.
Mặt khác thì hoạt động này cũng rất nhạy cảm trong sự phát triển chung của nền kinh tế, có ảnh hưởng đến rất nhiều lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn…nên đòi hỏi hoạt động này phải được tuân thủ theo pháp luật một cách chặt chẽ, nghiêm túc. Chính vì vậy, trong hoạt động ngân hàng không thể thiếu vai trò của tổ chức pháp chế. Những vấn đề cơ bản về pháp chế xã hội chủ nghĩa 1. Khái niệm và nội dung của pháp chế xã hội chủ nghĩa 1 1.
Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa Pháp chế là một trong những phạm trù cơ bản của học thuyết Mác- Lênin về nhà nước và pháp luật. Pháp chế không chỉ có ý nghĩa lý luận mà có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Ở Việt Nam hiện nay, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo đảm không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân thì pháp chế đóng 10 vai trò quan trọng trong bảo vệ chế độ xã hội, chế độ nhà nước, đảm bảo các mục đích của sự điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội. Pháp chế có nhiều cách hiểu khác nhau.
Theo Từ điển ngôn ngữ của tác giả Hoàng Phê “Pháp chế là chế độ chính trị của một nước trong đó việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội và điều chỉnh các quan hệ xã hội đều căn cứ vào luật”1. Theo Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật – Đại học Quốc gia Hà Nội: “Pháp chế chính là sự đòi hỏi các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân phải thực hiện đúng, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong hoạt động của mình” 2. Theo Giáo trình Nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “Pháp chế là một phạm trù pháp lý phản ánh một chế độ chính trị- xã hội, trong đó đòi hỏi mọi chủ thể trong xã hội phải tôn trọng, thực hiện đúng, nghiêm chỉnh pháp luật trong hoạt động của mình và mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo quy định của pháp luật không có ngoại lệ”3. Qua các khái niệm nêu trên có thể hiểu rằng, một xã hội muốn có pháp chế phải bảo đảm hai điều kiện.
Điều kiện cần là xã hội đó phải có hệ thống pháp luật và pháp luật được coi là tiền đề quan trọng để hình thành nên pháp chế. Điều kiện thứ hai là hệ thống pháp luật đó phải được mọi chủ thể trong xã hội tôn trọng, thực hiện đúng và nghiêm chỉnh. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật thì kiểu nhà nước nào sẽ có kiểu pháp luật ấy. Nhưng không phải kiểu nhà nước nào cũng có pháp chế mà chỉ trong xã hội tư bản thì mới có pháp chế - đó chính là pháp chế tư sản và trong XHCN thì có pháp chế XHCN.
1 Hoàng Phê (chủ biên); Từ điển ngôn ngữ, Nxb.757-758 2 Khoa Luật: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật,Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, H. 3 Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Nhà nước và pháp luật, Nxb. Lý luận chính trị, H. 11 Pháp chế XHCN ra đời cùng với sự xuất hiện nhà nước của giai cấp vô sản.
Để có pháp chế, trước hết là phải có pháp luật và là một hệ thống pháp luật đầy đủ, hoàn chỉnh; đồng thời chỉ có thể nói là có pháp chế, khi việc tôn trọng, tuân thủ, chấp hành pháp luật trở thành một đòi hỏi, một yêu cầu có tính nguyên tắc được bảo đảm để mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều biết và phải tôn trọng, tuân theo. Việc chấp hành pháp luật phải được thực hiện trên cơ sở mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không ai có đặc quyền không tôn trọng, không tuân theo, không chấp hành pháp luật. Như vậy, pháp luật và pháp chế không phải là một nhưng lại có quan hệ khăng khít với nhau. Pháp luật phải được ban hành đầy đủ và chỉ khi pháp luật đó được tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh thì mới có pháp chế.
Tuy nhiên, cũng không phải có hệ thống pháp luật, với các quy định đầy đủ, hoàn chỉnh, được chấp hành nghiêm chỉnh, triệt để thì xuất hiện pháp chế, pháp luật phải thừa nhận mọi quyền công dân cơ bản, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, thể chế hoá các quyền tự do, dân chủ của công dân, của mọi người thành các chế định pháp luật và có cơ chế bảo đảm để được mọi người tôn trọng, tuân theo. Cũng vì vậy, pháp chế gắn liền hữu cơ với các chế định pháp luật về các quyền tự do, dân chủ của công dân. Dân chủ trở thành một thành tố quan trọng bậc nhất của pháp chế. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng về mục đích và tầm quan trọng của pháp chế XHCN.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần đề cập đến vấn đề này trong các nghị quyết tại các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, trong đó chỉ rõ phương hướng và biện pháp cần thiết để tăng cường pháp chế XHCN. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh: “Phải dùng sức mạnh của pháp chế XHCN kết hợp với sức mạnh của dư luận quần chúng để đấu tranh chống những hành vi phạm pháp. Các cấp ủy Đảng, từ trên xuống dưới phải thường xuyên lãnh đạo công tác pháp chế. kiểm tra 12 chặt chẽ hoạt động của các cơ quan pháp chế”.
Tại Đại hội VIII của Đảng, quan điểm này được xác định: “Tăng cường pháp chế, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức. Một trong các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn từ năm 2011-2015 được ghi nhận tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đó là “Tiếp tục phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN; đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, chính quyền địa phương; đẩy mạnh cải cách hành chính và cải cách tư pháp; thực hiện có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân”. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII cũng đã ghi nhận thực tế kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII rằng “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không ngừng được củng cố vững mạnh”.
Đồng thời, Nghị quyết cũng nêu một trong các định hướng phát triển giai đoạn 2021-2030 là “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội” và một số nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII là “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh”; “Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam 13 trong sạch, vững mạnh; cải cách tư pháp, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là sự gương mẫu tuân theo pháp luật, thực hành dân chủ XHCN của cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội các cấp, của cán bộ, đảng viên; tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc”. Pháp chế XHCN là một khái niệm rất quan trọng trong tổ chức của bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam, trong hoạt động của mỗi chủ thể, công dân.
Tăng cường pháp chế XHCN là một đòi hỏi khách quan của quá trình quản lý và lãnh đạo của Nhà nước. Hiến pháp với tính chất là đạo luật cao nhất của nhà nước đã thể chế hóa quan điểm nêu trên của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, càng chứng tỏ pháp chế XHCN rất cần thiết, không thể thiếu trong đời sống xã hội nước ta và trở thành nguyên tắc hiến định của Nhà nước ta được quy định tại Điều 12, Hiến pháp 1992: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN. Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật”. Nguyên tắc này một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình quản lý, điều hành mọi hoạt động trong xã hội của Nhà nước ta tại Hiến pháp năm 2013, cụ thể, pháp chế XHCN được quy định tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 như sau:“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm 14 soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.