Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Một số công trình khoa học tiêu biểu có liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu lý luận về xây dựng hệ thống chính trị cơ sở và vai trò của Quân đội trong xây dựng hệ thống chính trị cơ sở khu vực biên giới 1. Các công trình nghiên cứu lý luận về xây dựng hệ thống chính trị cơ sở Bộ Quốc phòng Liên bang Nga (2003), Chiến lược ảo v ̛ aie̛n giới quốc gia, vùng nước n ̛i thuỷ, lãnh h̉i, thềm lục địa, vùng đạ̛c quyền kinh tế và tài nguye̛n thie̛n nhie̛n tre̛n các khu vực đó của Lie̛n aang Nga giai đo ạn 2001 - 2005 [24], đã phăn tích về các mục tiĕu cŏ bản, nguyĕn tắc, phŭŏng hŭớng phát triển trong quá trình bảo vẹ̆ biên giới quốc gia, các vùng nŭớc nọ̆i thuỷ, lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và tài nguyĕn thiĕn nhiĕn ở các khu vực đó của Liĕn bang Nga trong giai đoạn 2001 - 2005.
Trong đó, nọ̆i dung hoàn thiẹ̆n hẹ̆ thống bảo đảm hoạt đọ̆ng bảo vẹ̆ biên giới quốc gia, các vùng nŭớc nọ̆i thủy, lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và nguồn tài nguyĕn thiĕn nhiĕn ở các khu vực đó của Liĕn bang Nga đã xác định năm vấn đề có giá trị tham khảo quan trọng đối với cŏng tác quản lý biên giới quốc gia, bao gồm: Hoàn thiẹ̆n hẹ̆ thống quản lý nhà nŭớc; cŏng tác bảo đảm pháp quy; xăy dựng lực lŭợng biĕn phòng chuyĕn trách; phát triển quan hẹ̆ hợp tác trong lĩnh vực biĕn phòng; bảo đảm chính sách bảo hiểm xã họ̆i và bảo hiểm luặt pháp đối với quăn nhăn biĕn phòng, các cŏng dăn tham gia bảo vẹ̆ biên giới quốc gia, các vùng nŭớc nọ̆i thuỷ, lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và nguồn tài nguyĕn thiĕn nhiĕn ở các khu vực đó của Liĕn bang Nga. Bĕn cạnh đó, Chiến lŭợc cũng khẳng định quần chúng nhăn dăn ở khu vực biên 8 giới là mọ̆t lực lŭợng quan trọng, cần tích cực huy đọ̆ng họ tham gia bảo vệ biên giới quốc gia. Các tác giả Đỗ Nguyên Phương và Trần Ngọc Đường (1992), Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền [80], đã đưa ra khái niệm về hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, theo đó: hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là tổng thể các lực lượng chính trị bao gồm Đảng Cộng sản, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân mang tính chất chính trị, xã hội hoạt động theo một cơ chế thống nhất, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, thực hiện đường lối, mục tiêu xây dựng CNXH. Cơ chế đó bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Đồng thời, công trình đã phân tích luận giải khá sâu sắc quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong hệ thống chính trị nước ta. Tác giả Phan Xuân Sơn, Lưu Văn Quảng trong “Những vấn đề cơ ản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay” [94] đã nghiên cứu một cách có hệ thống chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ năm 1930 đến nay. Theo các tác giả, “Chính sách dân tộc ở nước ta là toàn bộ những chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước tác động vào tất cả các lĩnh vực đời sống của các dân tộc thiểu số, các vùng dân tộc và có thể đối với từng dân tộc riêng biệt, nhằm thay đổi tình trạng lạc hậu, biệt lập, phân biệt, bất bình đẳng giữa các dân tộc, hướng tới sự đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau cùng phát triển” [94, tr. Thông qua khảo sát thực tế tại vùng dân tộc Tây Bắc, Tây Nguyên, các tác giả đã rút ra những kết luận, làm rõ những thành công và hạn chế trong quá trình hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam; xác định những quan điểm, phương hướng lớn về chính sách dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc trong thực tiễn nhằm đảm bảo công bằng, bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau cùng phát triển.
Tác giả Trần Đình Hoan (2008), Quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam giai đo ạn 2005 - 2020 [57], trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với tổng kết 9 thực tiễn đổi mới ở Việt Nam trong hơn 20 năm (1986 - 2008), các tác giả đã tập trung phân tích, làm rõ tính tất yếu khách quan của việc đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta, nêu ra các mục tiêu, quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị; đề xuất phương hướng và các giải pháp đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2020. Các tác giả khẳng định, đổi mới hệ thống chính trị không nhằm mục tiêu tạo ra một hệ thống chính trị mới hay thay đổi bản chất của hệ thống chính trị hiện nay, mà thực hiện đổi mới theo hướng hoàn thiện để khắc phục những vấn đề còn bất cập, hạn chế, yếu kém, tạo nên sự phù hợp của hệ thống chính trị với các yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đổi mới hệ thống chính trị nhằm giữ vững ổn định chính trị, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chống lại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình”. Đổi mới hệ thống chính trị để củng cố, tăng cường, mở rộng nền tảng xã hội của hệ thống chính trị, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tạo ra sự đồng thuận xã hội để thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển.
Đổi mới hệ thống chính trị luôn phải đảm bảo và nâng cao vị trí, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, nâng cao sức chiến đấu của Đảng, trong đó, đổi mới, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Tác giả Nguyễn Phú Trọng (2008), Đổi mới và phát triển ở Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn [112], đã phân tích khá sâu sắc tư duy lý luận của Đảng ta về đổi mới hệ thống chính trị, phát huy dân chủ XHCN trong hệ thống chính trị ở Việt Nam. Theo tác giả, trải qua 20 năm đổi mới, hệ thống chính trị nước ta đã tập trung từng bước làm rõ các vấn đề: dân chủ XHCN; tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN do nhân dân làm chủ. Mục tiêu cao nhất trong hoạt động của hệ thống chính trị nước ta là giữ vững định hướng XHCN, gắn độc lập dân tộc với CNXH, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Tác giả Nguyễn Lâm Thành (2014), Chính sách phát triển vùng dân tộc 10 thiểu số phía Bắc Việt Nam [101]; tác giả Vũ Thu Thủy (2013), Những khó khăn, aất cập và gỉi pháp xây dựng hệ thống chính trị cơ sở [109]; các bài viết đã tập trung nghiên cứu về hệ thống chính trị ở cơ sở, thực trạng công tác cán bộ dân tộc thiểu số, các hệ thống chính sách phát triển kinh tế xã hội của khu vực miền núi phía Bắc, bao gồm các chính sách đất đai, cơ sở hạ tầng, chính sách nghề, việc làm, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách y tế, chính sách tín dụng, chính sách văn hóa, công tác an sinh xã hội, chương trình cải cách thủ tục hành chính. Các bài viết cũng chỉ rõ thực trạng trong quá trình xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, cũng như một số hạn chế, bất cập thực hiện các chính sách đã nêu tại các tỉnh miền núi phía Bắc, đồng thời đề xuất các giải pháp đổi mới, nâng cao vấn đề xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, hoàn thiện chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam. Thực hiện Nghị quyết 17/NQTW, Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (3/2002) về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn” đã có nhiều công trình khoa học được công bố liên quan đến chủ đề này, tiêu biểu như: “Hệ thống chính trị cơ sở - đặc điểm, xu hướng và gỉi pháp” (2002) của tác giả Vũ Hoàng Công [40]; “Các gỉi pháp đổi mới ho ạt động của hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi nước ta hiện nay”(2003) của các tác giả Tô Huy Rứa, Nguyễn Cúc, Trần Khắc Việt [93]; “Hệ thống chính trị cơ sở - thực trạng và một số gỉi pháp đổi mới” (2004) của tác giả Chu Văn Thành [100]; “Hệ thống chính trị cơ sở ở nông thôn nước ta hiện nay” (2004), tác giả Hoàng Chí Bảo - chủ biên, dựa trên cơ sở đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu một số vấn đề nhằm củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở tro ng sự nghiệp đổi mới và phát triển ở nước ta hiện nay” [13]. Các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ các vấn đề lý luận về hệ thống chính trị, hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta như: khái niệm, cấu trúc, bản chất, mục tiêu, cơ sở chính trị - xã hội của hệ thống chính trị trong quá trình hình thành và phát triển; chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức thành viên và mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống 11 chính trị; luận giải, làm rõ khái niệm hệ thống chính trị cơ sở, phân tích đặc điểm và tình hình hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở; đồng thời, dự báo những xu hướng biến đổi, phát triển của hệ thống chính trị cơ sở trong thời gian tới dưới tác động của tình hình chính trị trong nước, quốc tế; sự biến đổi kinh tế, xã hội, dân số, hội nhập quốc tế.
Các công trình cũng đã đưa ra các giải pháp nhằm củng cố hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở; yêu cầu tiếp tục đổi mới chính trị trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các công trình đều khẳng định bản chất, mục tiêu của đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị là nhằm thực hiện và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; cần tập trung giải quyết tốt mối quan hệ giữa hệ thống chính trị cơ sở với quần chúng nhân dân.