Chương I: Cơ sở lý luận của quan lý nhà nước bằng pháp luật về biên giới quốc gia nói chung và biên giới trên đất liền nói riêng Chương II: Thực trạng quan lý nhà nước bằng pháp luật về biên giới trên đất liền Việt Nam - Lào. Chương III: Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước bang pháp luật đối với biên giới trên đất liền Việt Nam- Lào. CHUONG I CƠ SỞ LY LUẬN CUA QUAN LÝ NHÀ NƯỚC BANG PHAP LUẬT VỀ BIÊN GIỚI QUỐC GIA NÓI CHUNG VÀ BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT LIÊN NÓI RIÊNG 1.1 Quản lý nhà nước bằng pháp luật về biên giới quốc gia - khái niệm và các đặc trưng 1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về biên giới 1.1 Sơ lược về khái niệm biên giới quốc gia và xác lập biên giới quốc gia Lãnh thổ và biên giới quốc gia là một phạm trù lịch sử, là hệ quả tất yếu của xã hội loài người khi xuất hiện nhà nước và pháp luật, xuất hiện giai cấp. Lê Nin đã chỉ rõ: “.nếu không có nhà nước thì không có vấn đề biên giới của nhà nước” {33, 29}.
Cùng với sự phát triển của lịch sử, pháp luật quốc tế, khái niệm biên giới quốc gia ngày càng phát triển và hoàn thiện. Trong khoa học pháp lý ở nước ta và nước ngoài, các học giả, các nhà nghiên cứu, và các luật gia đã đưa ra khá nhiều định nghĩa khác nhau về biên giới quốc gia. Theo giáo sư Rousseau, trong cuốn Từ điển thuật ngữ pháp luật quốc tế đã định nghĩa biên giới là “đường phân định nơi bất đầu và nơi kết thúc của lãnh thổ hai quốc gia láng giéng”. Từ điển Luật (Anh) của Earl định nghĩa đường biên giới như là “đường tưởng tượng phân chia hai vùng đất, vùng này tách khỏi vùng kia”; từ điển Coucise Oxford Dictionary định nghĩa đường biên giới là “đường giới hạn”, trong khi đó, từ điển Bách khoa Anh gọi biên giới là “một vật bất kỳ dùng để chỉ rõ một giới hạn hoặc ranh giới”.
Nhìn chung, biên giới là các đường xác định nơi bắt đầu và kết thúc lãnh thổ của một quốc gia hoặc là đường phân định lãnh thổ của quốc gia với các vùng biển thuộc thẩm quyền quốc gia. Theo một số giáo trình và tài liệu pháp lý về pháp luật quốc tế của nước ta, biên giới quốc gia là ranh giới phân định lãnh thổ của quốc gia này với lãnh thổ của quốc gia khác hoặc với các vùng thuộc quyền chủ quyền của quốc gia trên biển hay biên giới quốc gia là hàng rào pháp lý được vạch theo tâm trái đất qua một cột mốc quốc giới, giới hạn vùng đất, vùng nước, vùng trời và lòng đất thuộc chủ quyền của quốc gia. Biên giới quốc gia theo cách hiểu chung nhất như sau: Biên giới quốc gia là hàng rào pháp lý xác định giới hạn vùng đất, vùng nước, vùng biển, vùng trời và lòng đất thuộc chủ quyền quốc gia. Biên giới quốc gia là nơi phân chia chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia này với một quốc gia khác và/hoặc với các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia đó.
Nói một cách khác, biên giới quốc gia chính là giới hạn ngăn cách lãnh thổ của quốc gia này với quốc gia khác và ngăn cách lãnh hải với vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của một quốc gia {6,3}. Trong phạm vi không gian lãnh thổ đó, quốc gia là chủ thể xây dựng, áp dụng và thực thi một hệ thống các quy tắc pháp lý của nhà nước đó. Biên giới quốc gia là bất khả xâm phạm. Dự thảo Luật biên giới quốc gia nước CHXHCN Việt Nam (lần thứ 21) quy định tại Điều 1: “Biên giới quốc gia là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó, xác định ranh giới lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm đất liền, các đảo, các quần đảo, vùng biển, lòng đất và vùng trời”.
Biên giới quốc gia không chỉ có đường biên giới trên mặt đất, mặt nước mà bao gồm tổng hợp các bộ phận để xác định được phạm vi lãnh thổ một quốc gia, bao gồm biên giới trên đất liền, biên giới biển và biên giới trên không và biên giới trong lòng đất. Biên giới trên đất liền bao gồm biên giới trên vùng đất (núi đồi, đồng bằng, đầm lầy), trên đảo, trên sông, trên hồ và trên biển nội địa. Biên giới trên đất liền thường được ấn định bằng việc ký kết diéu ước quốc tế về biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia có chung biên giới, hoặc là các quyết định của cơ quan tài phán quốc tế khi các bên hữu quan đồng ý đưa ra. Biên giới trên biển (đối với các quốc gia có biển) là ranh giới phân định nội thuỷ, lãnh hải của quốc gia với các vùng biển khác hoặc lãnh thổ trên biển của quốc gia khác.
Về nguyên tắc, biên giới trên biển là ranh giới ngoài của lãnh hải. Trước đây, biên giới trên biển cùng phát triển với quá trình mở rộng lãnh hải của các quốc gia ven biển, và được hiểu là một đường nằm cách bờ biển một khoảng cách bảng tầm bắn của súng đại bác. Trên cơ sở quan niệm đó, các quốc gia tự quy định chiều rộng lãnh hải của mình nên không có sự thống nhất về tiêu chuẩn hoạch định đường biên giới quốc gia trên biển. Phải đến khi Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 ra đời, mới thống nhất được phần lớn các quan niệm và quy định về lãnh hải.
Phù hợp với các nguyên tắc pháp lý chung và thực tiễn quốc tế, đường biên giới này được xác định bằng các quy định của các quốc gia ven biển, thông qua sự tuyên bố chính thức và công khai của quốc gia đó. Theo đó, khi hai quốc gia có bờ biển đối diện nhau nhưng khoảng cách giữa hai hệ thống đường cơ sở của hai quốc gia lớn hơn 24 hải lý”, biên giới trên biển của mỗi quốc gia là đường nằm song song và cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải không vượt quá 12 hải lý. Còn trong trường hợp khi hai quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau nhưng khoảng cách giữa hai hệ thống đường cơ sở của hai quốc gia nhỏ hơn 24 hải lý, biên giới trên biển là đường phân chia lãnh hải giữa hai nước, nằm cách đều các điểm gần nhất của các đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có sự thoả thuận khác giữa các quốc gia này. Mặc dù hành động của các quốc gia là đơn phương nhưng lại liên quan trực tiếp đến quyền lợi của các quốc gia khác.
Điều cần lưu ý là trong lĩnh vực này, tính chất bất khả xâm phạm của đường biên giới trên biển bị giới hạn do quyền “đi qua không gây hại” được quy định trong pháp luật quốc tế. Có thể thấy trong Phán quyết năm 1951 về phân định lãnh hải giữa Anh và Na-uy, Toà án quốc tế tuyên bố rằng “Hành vi hoạch định lãnh hải nhất thiết là hành vi đơn phương, chỉ có quốc gia ven biển mới có thẩm quyền tiến hành. Tuy nhiên, việc hoạch định này có giá trị hay không đối với các quốc gia khác còn phụ thuộc vào pháp luật quốc tế. Biên giới trên biển của quốc gia được vạch trong các trường hợp sau: * Hải lý là đơn vị đo khoảng cách trên biển (1 hải lý = | phút kinh tuyến ~ 1.
- Trường hợp các quốc gia ven biển nằm kề nhau hoặc đối điện nhau: thông thường các quốc gia hữu quan áp dụng nguyên tắc đường cách đều đối với hai quốc gia nằm kể nhau hoặc nguyên tắc đường trung tuyến đối với hai quốc gia nằm đối diện nhau. - Trường hợp lãnh thổ trên biển của quốc gia nối tiếp vùng biển quốc tế: biên giới này do quốc gia xác định trên cơ sở phù hợp với nguyên tắc chung và thực tiễn pháp lý quốc tế, sau đó công bố chính thức và công khai cho các quốc gia khác biết. Biên giới trên không là biên giới trên vùng trời của quốc gia bao gồm biên giới xung quanh (biên giới sườn) và biên giới trên cao. Biên giới xung quanh được xác định dựa trên đường biên giới trên đất liền và biên giới trên biển (đối với quốc gia có biển), đó là mặt phẳng vuông góc với mặt đất, mặt nước và đi qua đường biên giới trên đất liền và trên biển.
Biên giới trên cao là ranh giới để phân định vùng trời thuộc chủ quyền quốc gia và vùng khoảng không vũ trụ ở phía trên. Hiện nay, trong Luật quốc tế chưa có quy định xác định chiều cao vùng trời của quốc gia. Biên giới vùng trời là các ranh giới xác định phạm vi vùng trời của một quốc gia. Trong những năm 1940 và 1950, đã có một số quốc gia đưa ra tuyên bố về biên giới vùng trời theo tiêu chuẩn không gian, nhưng hiện nay, chủ quyền quốc gia được nhận thức theo những tiêu chuẩn về chức năng sử dụng.
Đối với những xu hướng thể hiện trong luật về vùng trời, nhìn chung cho rằng độ cao cao hơn trần hoạt động của phương tiện bay (khoảng 50 km) là giới hạn vùng trời theo khả năng, nhưng cũng có một vài khuynh hướng trong thực tế cho rằng bất kỳ việc hoạch định ranh giới vùng trời nào đều phải tính từ ngoài không gian vũ trụ. Tuy nhiên, trên thực tế vấn dé này còn đang gây nhiều tranh cãi và chưa có một quy định nào của pháp luật quốc tế điều chỉnh lĩnh vực này và cũng chưa có một diéu ước quốc tế nào giữa các quốc gia ký kết về loại biên giới này nên các quốc gia đã buộc phải tự đưa ra những tuyên bố đơn phương về vùng trời của mình theo khả năng khai thác. Tuy nhiên, như trên đã nêu, do biên giới trên không còn chưa rõ ràng nên độ cao của biên giới này cũng chưa được các quốc gia xác định rõ ràng. Nói một cách khác, không có sự phân biệt pháp lý chính xác giữa vùng trời nơi quốc gia thực thi chủ quyền và khoảng không vũ trụ là vùng tự do.
Biên giới lòng đất là mặt phẳng được xác định dựa trên đường biên giới trên đất liền, trên biển (đối với quốc gia có biển) của quốc gia kéo đến tận tâm trái đất. Trong thực tiễn quốc tế, biên giới này được các quốc gia mặc nhiên thừa nhận. Trên thực tế, chỉ sau khi biên giới đã được hoạch định, phân giới và cắm mốc thì quốc gia mới có thể xác định được các đường biên giới của mình.