Đặt vấn đề Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người, đồng thời phụ nữ còn có vai trò quan trọng trong tái sản xuất ra con người để duy trì và phát triển xã hội, sáng tạo nền văn hoá nhân loại. Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm khoảng 50% dân số cả nước, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội an ninh quốc phòng và càng ngày càng thể hiện vị trí vai trò của mình trong xã hội. Trong suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ. Trong công cuộc đổi mới đất nước của Đảng, họ luôn giữ và phát huy nêu cao tinh thần yêu nước đoàn kết và lao động sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên trong học tập, lao động, phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực.
Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là người con dâu, người vợ, người mẹ người thầy của các con, người thầy thuốc của gia đình. Tuy nhiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nơi còn nhiều khó khăn và phụ nữ còn chịu nhiều thiệt thòi, vai trò của họ vẫn chưa được nhìn nhận đúng. Nước ta có tới 54 dân tộc mà dân tộc Kinh chiếm đa số, trong đó có tới 53 dân tộc ít người, họ sống trải dài trên mảnh đất hình chữ S. Địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu là những nơi có điều kiện địa hình khó khăn, phức tạp, canh tác còn lạc hậu và kém phát triển, những nơi địa đầu của tổ quốc.
Họ còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động phát triển sản xuất. Đây là địa bàn có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa xã hội cũng như an ninh quốc phòng. Mà trong gia đình người phụ nữ dân tộc 2 thiểu số lại là người trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế, hoạt động sản xuất, họ ít có cơ hội và điều kiện tiếp thu khoa học kỹ thuật, ít có tiếng nói trong gia đình. Do đó cần quan tâm hơn tới họ, tạo điều kiện cho họ phát huy được vai trò của mình trong phát triển kinh tế cũng như vai trò đối với xã hội.
Nhằm từng bước đẩy lùi bất bình đẳng giới, thay đổi nhận thức của người dân về vai trò của người phụ nữ, phát triển kinh tế xã hội và giữ vững an ninh quốc phòng. Xã Quang Hán là một xã thuộc huyện biên giới của Tỉnh Cao Bằng, có địa phận giáp với Trung Quốc, và một số huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn, Bắc Kạn và Hà Giang là một xã vùng 2 có cơ sở hạ tầng còn kém phát triển, đặc biệt là giao thông đường bộ gây khó khăn cho việc đi lại, giao lưu buôn bán với các địa phương khác, là nơi sinh sống của 4 dân tộc anh em trong đó người dân tộc Mông chiếm chỉ chiếm khoảng (5%). Trình độ dân trí của người dân còn thấp, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Hiện nay bất bình đẳng giới và bạo lực gia đình cũng như tình trạng phụ nữ dân tộc thiểu số nói chung và phụ nữ dân tộc Mông nói riêng trên địa bàn xã chưa được tham gia vào quá trình ra quyết định và các nguồn thông tin mới về kỹ thuật canh tác còn phổ biến.
Mặc dù họ lại là người trực tiếp tham gia sản xuất, do đó hiệu quả canh tác không cao, đời sống không được cải thiện. Xuất phát từ những vấn đề đó nên em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn xã Quang Hán - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng". Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng hoạt động của phụ nữ dân tộc Mông trên địa bàn xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng trong phát triển kinh tế nông 3 hộ.
Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế nông hộ. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế nông hộ. - Phân tích và đánh giá được thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế nông hộ tại xã Quang Hán. - Đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trên địa bàn xã Quang Hán.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa về mặt học tập - Củng cố kiến thức đã học với thực tế. - Tích lũy thêm những kiến thức mới cho bản thân nhằm phục vụ cho công việc trong tương lai. - Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin trong quá trình thực tập tại cơ sở.
Ý nghĩa về mặt thực tiễn Kết quả nghiên cứu đề tài giúp đánh giá đúng về vai trò của người phụ nữ dân tộc Mông nói riêng và vai trò của người phụ nữ nói chung trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Từ đó nâng cao nhận thức của chính người phụ nữ và người dân về vai trò của phụ nữ, góp phần phát huy hơn nữa vai trò của người phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế của chính gia đình họ, đóng góp vào sự phát triển của địa phương. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Một số khái niệm cơ bản về giới và giới tính * Giới tính Giới tính là một thuật ngữ được các nhà khoa học xã hội và các nhà sinh học dùng để chỉ một phạm trù sinh học, trong ý nghĩa đó nam và nữ khác nhau về mặt sinh học, tạo nên hai giới tính: nam giới và nữ giới.
Hay nói cách khác: Giới Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ. Giới tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay đổi được. Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người và di truyền nòi giống. Ví dụ như: sự khác nhau về hình dạng cơ thể bên ngoài (nam giới cao to hơn, nặng hơn, giọng nói trầm hơn, .), khác nhau về cấu tạo NST, hormone,.khác nhau về chức năng sinh học, tạo nên vai trò của giới tính (phụ nữ mang thai, sinh con và cho con bú; nam giới sản xuất ra tinh trùng để thụ thai ).
Những đặc trưng mang tính sinh học này có ngay từ khi con người được sinh ra, chúng ổn định và hầu như không biến đổi ở cả nam và nữ. * Giới Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được.
Giới không nói đến nam hay nữ mà chỉ mối quan hệ giữa họ. Giới liên hệ đến vai trò của nam và nữ do xã hội hoặc do một nền văn hóa xác lập nên. 5 Giới có thể khác nhau giữa nơi này với nơi khác, giữa nền văn hóa này so với nền văn hóa khác và có thể thay đổi theo thời gian. Khái niệm giới xuất hiện ban đầu ở các nước nói tiếng Anh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX.
Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80. Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. Giới đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể.[2] * Đặc trưng, nguồn gốc, sự khác biệt về giới - Đặc trưng cơ bản về giới + Do dạy và học mà có + Đa dạng + Luôn biến đổi + Có thể thay đổi được - Nguồn gốc giới Trong gia đình, từ khi sinh ra đứa trẻ đã được đối xử và dạy dỗ khác nhau tùy theo nó là trai hay gái. Đó là sự khác biệt về trang phục, hành vi, cách ứng xử mà cha mẹ, gia đình, nhà trường và xã hội trông chờ ở con trai và con gái.
Đồng thời họ cũng hướng dẫn, dạy dỗ trẻ em trai và gái theo những quan điểm riêng và cụ thể. Đứa trẻ phải học để trở thành con trai hay con gái và phải luôn điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với khuôn mẫu cụ thể của mỗi giới đã được quy định. Sau khi đã hình thành các đặc điểm như vậy, nhà trường và các tập quán xã hội lại tiếp tục củng cố các khuôn mẫu cụ thể của mỗi giới (ví dụ: nam thì học thêm các môn kỹ thuật, xây dựng; nữ thì học thêm các môn nữ công, may thêu. 6 Các thể chế xã hội như: chính sách, pháp luật,.cũng có ý nghĩa làm tăng hoặc giảm sự khác biệt giữa hai giới (ví dụ: ưu tiên nữ trong các nghề y tá, thư ký.Nam trong nghề lái xe, cảnh sát.
[2] - Sự khác biệt về giới Phụ nữ được xem là phái yếu vì một mặt thể lực họ yếu hơn nam giới, họ sống thiên về tình cảm. Vì vậy phân công lao động giữa hai giới cũng có sự khác biệt. Người phụ nữ có thiên chức là làm vợ, làm mẹ, chăm sóc con cái và gia đình. Còn nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình.
Họ có thể lực tốt hơn phụ nữ, cứng rắn, nhanh nhẹn hơn trong công việc. Đặc trưng này khiến nam giới ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình, họ tập trung hơn vào công việc tạo ra của cải vật chất và các công việc xã hội. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội. Hơn nữa do các tác động của định kiến xã hội, hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới khác nhau nên phụ nữ thường ít có cơ hội tiếp cận cái mới, trong học tập và tìm kiếm việc làm.
Mặt khác, phụ nữ thường bị ràng buộc bởi gia đình và con cái do đó họ ít có cơ hội tham gia các công việc xã hội và cơ hội thăng tiến trong công việc. Sự khác biệt về giới tạo nên khoảng cách giữa hai giới trong xã hội.