Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đậu xanh (Vigna radiata L. Wilczek) là một trong những cây trồng họ Đậu ngắn ngày có sức sinh trưởng khỏe, khả năng thích ứng cao với điều kiện khô nóng và đất đai nghèo dinh dưỡng. Cây trồng này đóng vai trò quan trọng trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và mang lại giá trị kinh tế đáng kể tại nhiều vùng sinh thái, đặc biệt là khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ với năng suất bình quân 12 - 13 tạ/ha. Bên cạnh giá trị thực phẩm, đậu xanh còn giữ vai trò cải tạo đất vượt trội nhờ lượng sinh khối thân lá để lại (tương đương 8 - 15 tấn/ha phân xanh) cùng hệ thống vi khuẩn nốt sần rễ cung cấp lượng đạm sinh học tương đương 20 - 40 kg N/ha (hay 42 - 85 kg Ure/ha).

Trong bối cảnh nền nông nghiệp đang có xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ từ phương thức thâm canh hóa chất sang canh tác hữu cơ nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm và bảo vệ hệ sinh thái, việc xác định chế độ dinh dưỡng phù hợp cho cây họ Đậu là một yêu cầu bức thiết. Mặc dù đậu xanh có khả năng tự cố định đạm từ khí trời, song tập quán canh tác truyền thống vẫn sử dụng phân bón hóa học ở giai đoạn đầu để kích thích sinh khối và tạo đà cho hệ nốt sần phát triển. Vấn đề khoa học đặt ra là: khi thay thế hoàn toàn phân bón hóa học bằng phân bón hữu cơ, sự sinh trưởng, khả năng tạo lập nốt sần và năng suất của cây đậu xanh sẽ biến đổi ra sao. Đề tài "Đánh giá vai trò của phân hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất của cây đậu xanh" được thực hiện nhằm cung cấp các luận cứ thực nghiệm cho vấn đề này.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá vai trò của việc bón phân hữu cơ đối với quá trình sinh trưởng và các yếu tố năng suất của giống đậu xanh TX05.

Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định bao gồm:

  1. Xác định ảnh hưởng của phân bón hữu cơ đến sinh trưởng của giống cây đậu xanh TX05.
  2. Xác định ảnh hưởng của phân bón hữu cơ đến tình hình sâu bệnh hại.
  3. Xác định ảnh hưởng của phân bón hữu cơ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống cây đậu xanh TX05.
  4. Xác định hiệu quả kinh tế của việc bón phân hữu cơ cho giống đậu xanh TX05.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây đậu xanh giống TX05; vật liệu phân bón sử dụng là phân gà ủ hoai mục so sánh với phân vô cơ và đối chứng không bón.
  • Phạm vi không gian: Khu thí nghiệm đồng ruộng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội).
  • Phạm vi thời gian: Vụ Hè Thu năm 2021 (thời gian thực hiện từ tháng 3/2021 đến tháng 9/2021).

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng sinh học thực vật và nông hóa học về dinh dưỡng khoáng cây họ Đậu:

  • Cây đậu xanh thuộc chi Vigna, phân chi Ceratotropis, họ Fabaceae. Cây có bộ rễ cọc phát triển tập trung ở tầng đất 0 - 25 cm, hình thành nốt sần chứa vi khuẩn cộng sinh Rhizobium có chức năng cố định nitơ tự do.
  • Dinh dưỡng khoáng: Đậu xanh đòi hỏi cân đối giữa các nguyên tố đa lượng (N, P, K), trung lượng (Ca, Mg, S) và vi lượng (Mo, B, Cu, Zn). Phân hữu cơ cung cấp chất mùn, kích thích phát triển rễ, giữ ẩm, tăng cường hoạt động của vi sinh vật đất và giải phóng dinh dưỡng từ từ; trong khi phân vô cơ cung cấp dưỡng chất nhanh nhưng dễ bị rửa trôi và không có tác dụng bồi dưỡng tính chất lý sinh của đất.
  • Tổng quan tài liệu ghi nhận các công trình nghiên cứu về liều lượng NPK tại Sơn La (trên giống ĐX11), mật độ và phân bón tại Nghệ An (giống đậu hạt nhỏ Nam Đàn), phân kali trên đất cát ven biển Nghệ An, che phủ và phân đạm tại Hưng Yên (giống ĐXVN7), cùng các thí nghiệm bón phân hữu cơ phối hợp vô cơ tại Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng:

  • Bố trí thí nghiệm: Theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) với 3 lần nhắc lại. Quy mô gồm 3 công thức xử lý:
    • Công thức 1 (CT1 - Đối chứng): Không bón phân.
    • Công thức 2 (CT2): Bón 100% phân hữu cơ (2.500 kg phân gà ủ hoai mục/ha, tương đương 3,6 kg/ô thí nghiệm).
    • Công thức 3 (CT3): Bón 100% phân vô cơ (86,96 kg N + 375 kg P₂O₅ + 100 kg K₂O/ha, tương đương 0,13 kg Urê + 0,54 kg Supe lân + 0,14 kg Clorua kali/ô thí nghiệm).
  • Quy cách ô thí nghiệm: Diện tích mỗi ô là 14,4 m² (tổng diện tích thí nghiệm 129,6 m²). Mật độ gieo trồng 30 cây/m² (hàng cách hàng 40 cm, cây cách cây 10 cm). Toàn bộ phân hữu cơ, lân và vôi bột được bón lót; phân đạm và kali bón thúc 2 đợt (lần 1 ở giai đoạn 1 - 2 lá thật; lần 2 ở giai đoạn 5 - 6 lá thật kết hợp vun xới).
  • Phương pháp theo dõi chỉ tiêu:
    • Chỉ tiêu sinh trưởng: Đo chiều cao thân chính bằng thước dây, đo đường kính thân bằng thước palme, đếm số lá mọc trên thân chính, đếm tổng số cành cấp 1 trên thân.
    • Chỉ tiêu sinh lý: Đo chỉ số diệp lục SPAD bằng máy đo SPAD 502 ở 3 tầng lá; xác định diện tích lá theo phương pháp cân trực tiếp; tính chỉ số diện tích lá (LAI); đo khối lượng chất khô bằng cách sấy mẫu ở 105°C đến khối lượng không đổi; tính hiệu suất quang hợp thuần (HSQH) theo công thức biến động chất khô trên diện tích lá qua thời gian.
    • Chỉ tiêu năng suất: Theo dõi trên 10 cây cố định mỗi ô qua 3 đợt thu hoạch gồm tổng số quả/cây, số quả chắc/cây, số hạt/quả, khối lượng 1.000 hạt, năng suất cá thể, năng suất lý thuyết và năng suất thực thu.
  • Nguồn dữ liệu và phân tích thống kê: Số liệu thu thập trực tiếp tại thực địa, tổng hợp bằng Microsoft Excel 2010 và xử lý phân tích phương sai (ANOVA), kiểm định sai khác trung bình bằng chuẩn LSD ở mức xác suất 0,05 thông qua phần mềm thống kê chuyên ngành IRISTAT 5.0.

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc nghiên cứu phân bón hữu cơ trên cây đậu xanh trong bối cảnh nông nghiệp chuyển đổi sang hướng canh tác an toàn. Phần mở đầu khẳng định vai trò kép của cây đậu xanh: cung cấp nông sản thực phẩm ngắn ngày và nâng cao độ phì đất thông qua sinh khối phân xanh cùng vi khuẩn cộng sinh cố định đạm. Tác giả xác lập mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ (phân gà ủ) so với phân hóa học và đối chứng không bón trên giống TX05 qua hệ thống 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể.

Phần II: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết toàn diện cơ sở sinh học và canh tác cây đậu xanh:

  • Phân loại học và nguồn gốc: Cây đậu xanh có nguồn gốc từ Ấn Độ, thuộc chi Vigna.
  • Đặc tính thực vật học: Hệ thống rễ cọc ăn sâu 20 - 30 cm, phân nhánh ngang và hình thành nốt sần chứa vi khuẩn Rhizobium tập trung ở cổ rễ; thân thảo cao 40 - 70 cm mang 7 - 8 đốt; lá kép 3 lá chét; hoa cánh bướm nở rải rác; quả giáp dài 8 - 14 cm; hạt không nội nhũ có khối lượng 1.000 hạt biến động từ 50 - 70 gam.
  • Nhu cầu dinh dưỡng: Phân tích vai trò của từng nguyên tố khoáng đa lượng (N, P, K), trung lượng (Ca, Mg, S) và vi lượng (Mo, Cu, B, Zn) đối với quá trình phát triển thân lá, quang hợp, tạo hạt và hoạt động của nốt sần.
  • So sánh phân bón: Phân hữu cơ làm tơi xốp đất, duy trì mùn, giữ ẩm và cung cấp dưỡng chất bền vững; phân vô cơ đáp ứng nhanh nhu cầu dinh dưỡng nhưng không cải thiện lý hóa tính đất.
  • Lược khảo nghiên cứu: Tổng hợp các kết quả thực nghiệm trong nước và quốc tế về các mức phân bón, mật độ và vật liệu che phủ đối với sinh trưởng và năng suất đậu xanh.

Phần III: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết vật liệu nghiên cứu là giống đậu xanh TX05 và phân gà ủ hoai mục. Thiết kế thí nghiệm đồng ruộng theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) gồm 3 nghiệm thức với 3 lần lặp lại, diện tích mỗi ô 14,4 m². Chương này mô tả kỹ thuật bón phân (bón lót và 2 lần bón thúc), khoảng cách mật độ (40 cm x 10 cm), chế độ tưới tiêu duy trì ẩm độ đất trên 70 - 80% cùng phương pháp thu thập mẫu cây ngẫu nhiên để xác định các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý (đo SPAD, sấy chất khô 105°C, tính LAI) và cấu thành năng suất bằng phần mềm IRISTAT 5.0.

Phần IV: Kết quả và thảo luận

Nội dung phân tích các số liệu thu được từ thí nghiệm đồng ruộng vụ Hè Thu năm 2021:

  1. Thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn: Bón phân làm thay đổi đáng kể chu kỳ sinh trưởng của giống đậu xanh TX05. Công thức bón phân hữu cơ (CT2) có thời gian từ gieo đến mọc là 4 ngày, từ gieo đến bắt đầu ra hoa là 37 ngày, từ ra hoa đến thu lần 1 là 23 ngày và thời gian thu hoạch kéo dài 20 ngày; tổng thời gian sinh trưởng đạt 80 ngày (ngắn nhất). Đối chứng không bón (CT1) kéo dài thời gian sinh trưởng lên 90 ngày (ra hoa muộn sau 40 ngày). Công thức bón phân vô cơ (CT3) đạt tổng thời gian sinh trưởng 84 ngày.

  2. Động thái tăng trưởng chiều cao cây và đường kính thân:

    • Về chiều cao: Giai đoạn 12 - 26 ngày sau gieo cây phát triển chậm do tập trung phát triển rễ. Giai đoạn 33 - 47 ngày sau gieo thân vươn nhanh. Ở 47 ngày sau gieo, chiều cao cây cuối cùng ở CT2 đạt 83,7 cm và CT3 đạt 81,9 cm, cả hai đều cao hơn có ý nghĩa thống kê so với CT1 (79,8 cm) ở mức $LSD_{0,05} = 2,03$ cm.
    • Về đường kính thân: Đường kính thân tăng đều theo thời gian. Ở 40 ngày sau gieo, đường kính thân ở CT3 đạt cao nhất (9,4 mm), tiếp đến là CT2 (8,8 mm) và thấp nhất là CT1 (8,0 mm); sự khác biệt giữa các công thức đều có ý nghĩa thống kê ở mức $LSD_{0,05} = 0,47$ mm.
  3. Số lá trên cây và tổng số cành cấp 1:

    • Số lá/cây tăng dần qua các tuần theo dõi. Ở 47 ngày sau gieo, số lá cuối cùng giữa các công thức đạt từ 9,9 - 10,0 lá/cây và không có sai khác mang ý nghĩa thống kê ($LSD_{0,05} = 0,18$).
    • Số cành cấp 1/cây có sự phân hóa rõ rệt: CT2 đạt 1,9 cành/cây, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với CT1 (1,6 cành/cây) và CT3 (1,7 cành/cây) với $LSD_{0,05} = 0,15$ cành.
  4. Chỉ số sinh lý lá (SPAD và LAI):

    • Chỉ số diệp lục SPAD: Ở giai đoạn ra hoa, SPAD dao động từ 43,21 đến 44,49; ở giai đoạn quả chắc tăng lên 48,31 đến 49,91. Sự khác biệt về chỉ số SPAD giữa 3 công thức không có ý nghĩa thống kê ở cả hai thời kỳ.
    • Chỉ số diện tích lá (LAI): Ở giai đoạn ra hoa, CT3 đạt LAI cao nhất (25,39 m² lá/m² đất), CT2 đạt 20,96 và CT1 đạt 19,92. Tuy nhiên, đến giai đoạn quả chắc, CT2 vươn lên dẫn đầu với LAI đạt 39,14 m² lá/m² đất, tương đương CT3 (39,02) và cao hơn hẳn mức có ý nghĩa so với CT1 (28,45) với $LSD_{0,05} = 5,33$. Chênh lệch LAI giữa hai giai đoạn ở CT2 lên tới 18,18 m² lá/m² đất (so với CT3 là 13,63 và CT1 là 8,53), thể hiện hiệu lực dinh dưỡng bền vững của phân hữu cơ ở giai đoạn sau.
  5. Khả năng hình thành nốt sần rễ:

    • Ở giai đoạn ra hoa: Số lượng nốt sần dao động từ 55,47 - 56,93 nốt/cây; khối lượng nốt sần đạt 0,35 - 0,42 g/cây; sai khác không có ý nghĩa thống kê.
    • Ở giai đoạn quả chắc: Số lượng nốt sần có xu hướng giảm chung, nhưng CT2 duy trì số nốt sần cao nhất (52,97 nốt/cây) và khối lượng nốt sần cao nhất (0,39 g/cây); trong khi CT1 giảm xuống 41,73 nốt/cây (0,28 g/cây) và CT3 đạt 47,13 nốt/cây (0,36 g/cây).
  6. Tích lũy chất khô và hiệu suất quang hợp:

    • Tích lũy chất khô: Khối lượng khô ở các bộ phận (rễ, thân, lá, quả) tăng mạnh từ giai đoạn ra hoa sang quả chắc. Ở giai đoạn quả chắc, CT2 đạt khối lượng thân khô cao nhất (12,34 g/cây so với CT3 là 11,72 g/cây và CT1 là 9,53 g/cây); khối lượng quả khô ở CT3 đạt 2,08 g/cây, CT2 đạt 1,83 g/cây, đều vượt trội so với CT1 (0,52 g/cây).
    • Hiệu suất quang hợp (HSQH): CT2 đạt 0,11 g chất khô/m² lá/ngày đêm, cao hơn so với CT3 (0,08) và CT1 (0,07), tuy nhiên mức sai khác chưa đạt ý nghĩa thống kê ($LSD_{0,05} = 0,04$).
  7. Yếu tố cấu thành năng suất (số quả/cây và số quả chắc/cây):

    • Tổng số quả/cây: Qua 3 đợt thu hoạch, CT2 đạt tổng số quả cao nhất là 19,63 quả/cây, CT3 đạt 18,79 quả/cây và CT1 đạt 15,27 quả/cây. Ở lần thu đầu tiên, CT2 cho số quả vượt trội (7,50 quả/cây, sai khác có ý nghĩa so với CT1 đạt 5,97 quả/cây).
    • Tổng số quả chắc/cây: CT2 đạt 17,56 quả/cây, CT3 đạt 17,30 quả/cây và CT1 đạt 16,40 quả/cây. Lần thu thứ nhất ghi nhận số quả chắc của CT2 đạt 6,63 quả/cây, CT3 đạt 6,37 quả/cây và CT1 đạt 5,60 quả/cây.

Phần V: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các kết quả chính của đề tài, khẳng định bón 100% phân hữu cơ (2,5 tấn phân gà ủ/ha) mang lại hiệu quả tích cực trong việc kích thích cành cấp 1, duy trì bộ lá và nốt sần ở giai đoạn nuôi quả, rút ngắn thời gian sinh trưởng và nâng cao số quả chắc/cây trên giống đậu xanh TX05. Đề xuất tiếp tục nhân rộng và thử nghiệm liều lượng hữu cơ trên các chân đất khác nhau.


Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về phản ứng của giống đậu xanh TX05 đối với việc bón phân hữu cơ so với phân vô cơ và không bón.

Bảng tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý và cấu thành năng suất chính của giống đậu xanh TX05:

Nhóm chỉ tiêu Chỉ tiêu cụ thể CT1 (Không bón) CT2 (100% Hữu cơ) CT3 (100% Vô cơ) $LSD_{0,05}$
Thời gian sinh trưởng Gieo đến bắt đầu ra hoa (ngày) 40 37 38 -
Tổng thời gian sinh trưởng (ngày) 90 80 84 -
Sinh trưởng hình thái Chiều cao cây ở 47 NSG (cm) 79,8 83,7 81,9 2,03
Đường kính thân ở 40 NSG (mm) 8,0 8,8 9,4 0,47
Số lá/cây ở 47 NSG (lá) 9,9 10,0 9,9 0,18
Số cành cấp 1 trên thân (cành/cây) 1,6 1,9 1,7 0,15
Chỉ số sinh lý SPAD giai đoạn quả chắc 49,91 48,41 48,31 3,18
LAI giai đoạn quả chắc (m² lá/m² đất) 28,45 39,14 39,02 5,33
Số nốt sần giai đoạn quả chắc (nốt/cây) 41,73 52,97 47,13 33,74
Khối lượng nốt sần quả chắc (g/cây) 0,28 0,39 0,36 0,16
Khối lượng khô thân quả chắc (g/cây) 9,53 12,34 11,72 2,88
Khối lượng khô quả ở quả chắc (g/cây) 0,52 1,83 2,08 1,54
Hiệu suất quang hợp (g chất khô/m² lá/ngày đêm) 0,07 0,11 0,08 0,04
Cấu thành năng suất Tổng số quả trên cây (quả/cây) 15,27 19,63 18,79 -
Tổng số quả chắc trên cây (quả/cây) 16,40 17,56 17,30 -

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất:

  • Cung cấp cơ sở khoa học khẳng định phân gà ủ hoai mục (2,5 tấn/ha) hoàn toàn có thể thay thế phân bón hóa học trong canh tác đậu xanh giống TX05 mà không làm suy giảm sinh trưởng hay năng suất.
  • Phân hữu cơ thể hiện đặc tính cung cấp dinh dưỡng bền bỉ: kích thích ra cành cấp 1 mạnh nhất (1,9 cành), duy trì chỉ số diện tích lá cao ở giai đoạn quả chắc (39,14 m² lá/m² đất) và hạn chế sự thoái hóa của hệ nốt sần cố định đạm về cuối vụ tốt hơn so với bón phân hóa học.
  • Việc rút ngắn thời gian sinh trưởng xuống 80 ngày (giảm 10 ngày so với đối chứng và 4 ngày so với phân vô cơ) tạo điều kiện thuận lợi cho việc bố trí luân canh tăng vụ trong cơ cấu cây trồng vụ Hè Thu tại vùng đồng bằng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thí nghiệm mới được triển khai trong phạm vi một vụ Hè Thu duy nhất (năm 2021) tại một địa điểm thực địa cố định (Khu thí nghiệm Khoa Nông học, Gia Lâm, Hà Nội), do đó chưa đánh giá được ảnh hưởng tương tác giữa phân hữu cơ với các tiểu vùng khí hậu và loại đất khác nhau.
  • Thí nghiệm chỉ so sánh giữa mức bón 100% hữu cơ và 100% vô cơ đơn thuần, chưa thiết lập các công thức phối trộn theo tỷ lệ kết hợp giữa phân hữu cơ và vô cơ để tìm điểm tối ưu.
  • Trong phạm vi văn bản khóa luận được lưu trữ, các bảng số liệu chi tiết về số hạt/quả, khối lượng 1.000 hạt, năng suất thực thu cuối cùng và bảng tính chi tiết hiệu quả kinh tế (lãi thuần) chưa được thể hiện trọn vẹn ở phần sau của báo cáo.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng khảo nghiệm trên các chân đất khác nhau (đất cát ven biển, đất phù sa không được bồi, đất bạc màu) qua nhiều mùa vụ để đánh giá tính ổn định sinh học của giống TX05 khi bón phân hữu cơ.
  • Thử nghiệm các mức liều lượng phân gà ủ khác nhau (ví dụ: 2,0; 2,5; 3,0; 3,5 tấn/ha) hoặc nghiên cứu phối hợp giữa phân hữu cơ vi sinh với phân chuồng hoai mục nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất.
  • Đánh giá sâu hơn về dư lượng dinh dưỡng và tác động cải tạo lý hóa tính đất (độ xốp, dung trọng, hàm lượng mùn và vi sinh vật đất) sau khi thu hoạch đậu xanh canh tác hữu cơ.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận này mang lại giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên cao học ngành Nông học, Khoa học cây trồng, Trồng trọt: Tham khảo mẫu hình nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng cây họ Đậu, cách thức xây dựng bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) và phương pháp thu thập các chỉ tiêu sinh lý định lượng chuyên sâu (đo SPAD, cân diện tích lá xác định LAI, phân tích chất khô bằng phương pháp sấy mẫu, tính toán hiệu suất quang hợp).
  • Các nhà nghiên cứu và cán bộ kỹ thuật nông nghiệp: Sử dụng nguồn số liệu gốc để so sánh đối chứng về hiệu lực sinh học của phân gà hoai mục đối với động thái vươn cao, phân cành và biến động hệ nốt sần Rhizobium trong canh tác đậu xanh hữu cơ.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Phương pháp luận và số liệu tại Phần IV liên quan đến động thái tăng trưởng LAI và sự hình thành nốt sần qua hai giai đoạn ra hoa và quả chắc, minh chứng rõ rệt cho cơ chế dinh dưỡng nhả chậm của phân hữu cơ.

Câu hỏi thường gặp

1. Liều lượng phân bón cụ thể được sử dụng cho từng công thức trong thí nghiệm là bao nhiêu? Thí nghiệm sử dụng 3 công thức:

  • CT1: Đối chứng không bón phân.
  • CT2: Bón 100% phân hữu cơ với lượng 2.500 kg phân gà ủ hoai mục/ha (tương đương 3,6 kg/ô thí nghiệm 14,4 m²).
  • CT3: Bón 100% phân hóa học theo liều lượng 86,96 kg N + 375 kg P₂O₅ + 100 kg K₂O/ha (tương đương 0,13 kg Urê + 0,54 kg Supe lân + 0,14 kg Clorua kali/ô thí nghiệm 14,4 m²).

2. Bón phân hữu cơ tác động như thế nào đến thời gian sinh trưởng của giống đậu xanh TX05? Bón phân hữu cơ rút ngắn thời gian sinh trưởng rõ rệt. Giống TX05 ở công thức bón phân hữu cơ có tổng thời gian sinh trưởng là 80 ngày, ngắn hơn 4 ngày so với công thức bón phân vô cơ (84 ngày) và ngắn hơn 10 ngày so với đối chứng không bón phân (90 ngày). Thời gian từ gieo đến bắt đầu ra hoa ở công thức hữu cơ chỉ mất 37 ngày (đối chứng mất 40 ngày).

3. Khả năng phát triển cành cấp 1 và chiều cao thân chính của cây đậu xanh khi bón phân gà ủ hoai mục đạt mức nào? Công thức bón phân hữu cơ kích thích phân cành cấp 1 mạnh nhất, đạt 1,9 cành/cây (cao hơn có ý nghĩa thống kê so với phân vô cơ đạt 1,7 cành/cây và đối chứng đạt 1,6 cành/cây với $LSD_{0,05} = 0,15$). Chiều cao cây cuối cùng ở 47 ngày sau gieo của công thức hữu cơ đạt cao nhất (83,7 cm), sai khác có ý nghĩa so với đối chứng (79,8 cm) nhưng tương đương với công thức vô cơ (81,9 cm).

4. Vì sao nói bón phân hữu cơ mang lại hiệu quả dinh dưỡng bền bỉ hơn ở giai đoạn sau của cây đậu xanh? Biểu hiện rõ nhất qua chỉ số diện tích lá (LAI) và nốt sần ở giai đoạn quả chắc:

  • Chỉ số LAI của công thức hữu cơ tăng vọt từ 20,96 m² lá/m² đất (giai đoạn ra hoa) lên 39,14 m² lá/m² đất (giai đoạn quả chắc), mức tăng đạt 18,18 m² lá/m² đất (vượt xa mức tăng 13,63 của công thức vô cơ).
  • Ở giai đoạn quả chắc, công thức bón phân hữu cơ duy trì số nốt sần cao nhất (52,97 nốt/cây) và khối lượng nốt sần lớn nhất (0,39 g/cây), trong khi đối chứng giảm mạnh xuống 41,73 nốt/cây (0,28 g/cây).

5. Tổng số quả và số quả chắc trên cây ở công thức bón phân hữu cơ đạt bao nhiêu? Qua 3 đợt thu hoạch, công thức bón 100% phân hữu cơ ghi nhận tổng số quả trên cây đạt cao nhất với 19,63 quả/cây (so với công thức vô cơ là 18,79 quả/cây và đối chứng là 15,27 quả/cây). Tổng số quả chắc/cây ở công thức phân hữu cơ đạt 17,56 quả/cây, vượt trội so với phân vô cơ (17,30 quả/cây) và không bón (16,40 quả/cây).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lèng Tiến Thành đã thực hiện đánh giá thực nghiệm vai trò của phân hữu cơ (phân gà ủ hoai mục liều lượng 2,5 tấn/ha) đối với giống đậu xanh TX05 trong vụ Hè Thu năm 2021 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Kết quả khẳng định việc bón phân hữu cơ không chỉ rút ngắn thời gian sinh trưởng xuống 80 ngày mà còn thúc đẩy số cành cấp 1 đạt 1,9 cành/cây, duy trì chỉ số diện tích lá đạt 39,14 m² lá/m² đất và bảo tồn hoạt động của nốt sần rễ ở giai đoạn nuôi quả. Công thức bón phân hữu cơ đạt tổng số quả chắc cao nhất (17,56 quả/cây), chứng minh tiềm năng thay thế hoàn toàn phân vô cơ nhằm hướng tới quy trình canh tác đậu xanh an toàn và bền vững.