Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ BẮT BUỘC PHẢI CÓ NGƯỜI BÀO CHỮA 1. Người bào chữa trong vụ án hình sự 1. Khái niệm người bào chữa Ngƣời bào chữa là một chế định quan trọng trong pháp luật TTHS nhƣng BLTTHS 2003 vẫn chƣa đƣợc ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm ngƣời bào chữa. Do vậy hiện nay trong khoa học luật tố tụng hình sự tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm ngƣời bào chữa.
Nhìn chung các quan điểm đều dựa vào các qui định của BLTTHS để đƣa ra khái niệm ngƣời bào chữa. Quan điểm 1: Ngƣời bào chữa là ngƣời tham gia tố tụng với nhiệm vụ và mục đích là làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án nhằm chứng minh cho sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ [8, tr. Quan điểm 2: NBC trong TTHS là ngƣời tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS của ngƣời bị buộc tội, giúp ngƣời bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa [1]. Quan điểm 3: Ngƣời bào chữa là ngƣời đƣợc ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của họ, những ngƣời khác đƣợc ngƣời 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bị tạm giữ, bị can, bị cáo uỷ quyền mời hay đƣợc cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn luật sƣ phân công Văn phòng luật cử hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhằm làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý [18].
Quan điểm 4: Ngƣời bào chữa là ngƣời không liên quan đến vụ án hình sự. Ngƣời bào chữa là những ngƣời có trình độ, chuyên môn, khả năng bào chữa, bênh vực ngƣời đang bị buộc tội. Họ chỉ tham gia tố tụng hình sự khi đƣợc ngƣời bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và đƣợc cơ quan, ngƣời có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng kí bào chữa [2]. Tuy Bộ luật tố tụng 2015 đến thời điểm hiện tại vẫn chƣa có hiệu lực nhƣng lần đầu tiên ngƣời bào chữa đƣợc ghi nhận trong BLTTHS 2015.
Điều 72 BLTTHS quy định: “Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa”. Có thể nói các quan điểm trên xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau trên cơ sở nghiên cứu chế định NBC đƣợc quy định trong BLTTHS và thực tiễn thi hành. Nên mỗi quan điểm mới chỉ tiếp cận đƣợc một hoặc một số dấu hiệu của chế định NBC chƣa thể hiện đầy đủ và khái quát về chế định này. Vì vậy, một khái niệm đầy đủ về NBC phải thể hiện đƣợc các đặc điểm về NBC và phạm vi đối tƣợng chữa nhƣ sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, người bào chữa trong tố tụng hình sự là người tham gia tố tụng.
Đây là đặc điểm đầu tiên thể hiện rõ nhất đƣợc quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự [20, Điều 56, Chƣơng IV]. Đặc điểm này nhằm phân biệt với ngƣời tiến hành tố tụng (gồm:Thủ trƣởng, Phó thủ trƣởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trƣởng, Phó viện trƣởng Viện kiếm sát, Kiểm soát viên; Chánh án, Phó chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thƣ ký toà án), ngƣời THTT là những ngƣời nhân danh quyền lực Nhà nƣớc trực tiếp giải quyết vụ án hình sự còn ngƣời bào chữa có nhiệm vụ đƣa ra các chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết trong vụ án và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ngƣời bị tạm giam, bị can, bị cáo. Thứ hai, NBC tham gia tố tụng với mục đích đưa ra những tình tiết xác định người bị bắt, NBTG, bị can, bị cáo, người bị kết án vô tội, những tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với họ và giúp đỡ họ về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Đặc điểm này xác định nhiệm vụ, mục đích tham gia tố tụng của NBC đối với đối tƣợng bào chữa.
Theo chúng tôi, nên mở rộng phạm vi đối tƣợng bào chữa không chỉ bao gồm NBTG, bị can, bị cáo nhƣ trong qui định của BLTTHS hiện hành mà bao gồm cả ngƣời bị bắt cho phù hợp với qui định của Hiến pháp năm 2013 và ngƣời bị kết án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ trong giai đoạn thi hành án. Thứ ba, NBC là người được các CQTHTT chứng nhận thông qua việc cấp Giấy chứng nhận NBC. Đặc điểm này được qui định tại khoản 4 Điều 56 BLTTHS năm 2003. Thứ tư, NBC là người đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật qui định.
Bởi không phải bất cứ ai cũng có thể tham gia tố tụng với tƣ cách là NBC. Theo qui định của pháp luật thì các điều kiện đó là: - Phải đƣợc NBTG, bị can, bị cáo hoặc ngƣời đại diện hợp pháp của họ, những ngƣời khác đƣợc họ ủy quyền mời [20, Điều 57, Khoản 1]; [17, điểm 2, Mục II]; đƣợc 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CQTHTT yêu cầu Đoàn LS phân công Văn phòng LS cử NBC cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử NBC cho thành viên của tổ chức mình trong trƣờng hợp bắt buộc phải có NBC nhƣng NBTG, bị can, bị cáo hoặc ngƣời đại diện hợp pháp của họ không mời NBC [20, Điều 57, Khoản 2, 3]; hoặc do Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nƣớc cử Trợ giúp viên pháp lý hoặc Luật sƣ - Cộng tác viên tham gia để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ngƣời đƣợc trợ giúp pháp lý là NBTG, bị can, bị cáo [22, Điều 39]; - Phải không thuộc vào một trong những trƣờng hợp không đƣợc bào chữa theo qui định tại khoản 2 Điều 56 BLTTHS năm 2003; - Phải đáp ứng điều kiện do các văn bản pháp luật khác qui định. Ví dụ: đối với NBC là LS thì phải đáp ứng các điều kiện do Luật LS và các văn bản hƣớng dẫn; đối với NBC là Trợ giúp viên pháp lý thì phải đáp ứng các điều kiện do Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hƣớng dẫn,. Nhƣ vậy, trên cơ sở phân tích các đặc điểm về NBC và sự tiếp thu những điểm hợp lý, khắc phục những hạn chế trong các khái niệm NBC nói trên, dƣới góc độ khoa học Luật TTHS, chúng ta có thể rút ra khái niệm về NBC trong Luật TTHS nhƣ sau: “NBC trong Luật TTHS là người đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện do pháp luật qui định, được CQTHTT cấp giấy chứng nhận, tham gia tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS của người bị bắt, NBTG, bị can, bị cáo, người bị kết án và giúp đỡ các chủ thể đó về mặt pháp lý trong các vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.
Chủ thể bào chữa Một là, luật sư Luật sư là ngƣời có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng) [21, Điều 2]. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người muốn được hành nghề luật sư phải gia nhập một đoàn luật sư phải có đủ các điều kiện theo quy định của Luật Luật sư, để đạt tiêu chuẩn để trở thành luật sư hội đủ điều kiện được quy định tại Điều 10 Luật luật sư: “Công dân Việt Nam trung thành với Tố quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, đã đƣợc đào tạo nghề luật sƣ, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sƣ, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sƣ thì có thể trở thành luật sƣ”. Và khi đạt đủ tiêu chuẩn tại Điều 10 còn phải hội đủ điều kiện hành nghề luật sư được quy định tại Điều 11 Luật luật sư: “Ngƣời cỏ đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn đƣợc hành nghề luật su phải có chứng chỉ hành nghề luật sƣ và gia nhập một Đoàn luật sƣ”. Những luật sƣ đƣợc ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc ngƣời đại diện hợp pháp của họ mời làm ngƣời bào chữa đế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ và luật sƣ này không thuộc một trong những điều kiện không đƣợc bào chữa đƣợc quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự: “Người đã tiến hành tổ tụng trong vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó; Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch" [20, Điều 56, Khoản 2], thì luật sƣ đƣợc mời làm ngƣời bào chữa và đƣợc Cơ quan tiến hành tố tụng đồng ý cấp giấy chứng nhận bào chữa thì luật sƣ đƣợc mời mới trở thành luật sƣ bào chữa trong vụ án hình sự.
Đây là hai điều kiện phải cùng tồn tại song song với nhau có một bên chủ thể không đồng ý thì luật sƣ không thể trở thành luật sƣ bào chữa trong vụ án hình sự. Tóm lại, luật sƣ bào chữa là ngƣời có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật và đại diện cho ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời mà luật sƣ bào chữa nhận lời bào chữa và phải đƣợc Cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận bào chữa thi luật sƣ mới chính thức trở thành luật sƣ bào chữa trong vụ án hình sự. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.