mở đầu trang sử vẻ vang của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam. Tháng 11/1936, Đảng ta quyết định thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dƣơng; đến tháng 3/1938 đổi thành Mặt trận thống nhất dân chủ Đông dƣơng, gọi tắt là Mặt trận dân chủ Đông Dƣơng. Với mục tiêu nhằm chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, cơm áo và hoà bình. Nhận rõ sự chuyển biến lớn của tình thế cách mạng trong từng giai đoạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị TW lần thứ 8 (tháng 5/1941) xác định cách mạng Việt Nam lúc này là Cách mạng dân tộc giải phóng và quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh hội, gọi tắt là 12 Mặt trận Việt Minh.
Đây là thời kỳ chính sách mặt trận đƣợc đề ra cụ thể, đƣợc áp dụng rộng và có kinh nghiệm phong phú nhất. Để tăng cƣờng khối đại đoàn kết toàn dân tháng 5/1946, Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam gọi tắt là Hội Liên Việt đƣợc thành lập đã thu hút đƣợc thêm nhiều tầng lớp nhân dân. Đến tháng 3/1951, Đại hội thống nhất Việt minh - Liên Việt lấy tên là Mặt trận Liên Việt. Mặt trận Liên Việt đã góp phần tích cực trong việc đƣa đất nƣớc ta thoát khỏi thế “ngàn cân treo sợi tóc” giai đoạn 1945 – 1946.
Để mở rộng khối đoàn kết dân tộc, để thực hiện thống nhất Tổ quốc, Đại hội Mặt trận Liên Việt toàn quốc họp từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1955 tại Hà Nội quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tiếp tục sự nghiệp đoàn kết toàn dân của Mặt trận Liên Việt. Quan hệ giữa các tổ chức trong Mặt trận dựa trên nguyên tắc thƣơng lƣợng dân chủ đi đến thống nhất hành động, thân ái, hợp tác, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, tôn trọng tính chất độc lập của mỗi tổ chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đƣợc Đại hội bầu làm Chủ tịch danh dự của Mặt trận. Tháng 12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời mà nội dung cơ bản là đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, xây dựng một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc.
Ngày 20/4/1968, trên cơ sở thắng lợi và khí thế của Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968, Liên minh các lực lƣợng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam ra đời với bản cƣơng lĩnh thích hợp để đoàn kết và tranh thủ một số ngƣời ở thành thị, mở rộng thêm một bƣớc Mặt trận chống Mỹ cứu nƣớc. Tháng 6/1969, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam đã bầu ra Chính phủ Cách mạng lâm thời và Hội đồng cố vấn. Từ khi ra đời, Mặt trận đã làm một phần chức năng của chính quyền dân chủ nhân dân và từ đây, Mặt 13 trận trở thành vai trò trụ cột và hậu thuẫn cho chính quyền cách mạng. Mặt trận không ngừng đẩy mạnh hoạt động trên cả ba mặt quân sự, chính trị và ngoại giao, tiến tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Sau khi thống nhất nƣớc nhà, tháng 01/1977, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam quyết định thống nhất 3 tổ chức Mặt trận ở hai miền lấy tên chung là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đây là Đại hội lịch sử, biểu dƣơng thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là mốc đánh dấu bƣớc phát triển mới của Mặt trận dân tộc thống nhất trong giai đoạn mới của cách mạng. Hơn 87 năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn giữ vai trò củng cố và tăng cƣờng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ cách mạng mới. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã động viên Nhân dân tăng cƣờng đoàn kết, vƣợt qua mọi khó khăn, thách thức giành nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhà nƣớc chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, tạo động lực, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới, đƣa đất nƣớc chuyển sang thời kỳ phát triển mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, vì dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Sự tham gia quản lý nhà nước của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nƣớc, trƣớc hết cần làm rõ khái niệm “quản lý”. Thuật ngữ “quản lý” thƣờng đƣợc hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng nhƣ cách tiếp cận của ngƣời nghiên cứu. Quản lý là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dƣới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội.
- Theo quan điểm của Mác, quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn 14 lẻ để đạt đƣợc cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất. Ở đây Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý. - Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý chí của ngƣời quản lý. Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt đƣợc một mục đích của ngƣời quản lý.
Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý. - Nhƣ vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu quản lý. Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng nhƣ cách tiếp cận của ngƣời nghiên cứu. Quản lý nhà nƣớc: - Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nƣớc thì “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [24, tr.5] - Nhƣ vậy, quản lý nhà nƣớc là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nƣớc, đƣợc sử dụng quyền lực nhà nƣớc để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Quản lý nhà nƣớc đƣợc xem là một hoạt động chức năng của nhà nƣớc trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt quản lý nhà nƣớc đƣợc hiểu theo hai nghĩa. + Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nƣớc là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nƣớc, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tƣ pháp. + Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nƣớc chỉ bao gồm hoạt động hành pháp. 15 - Quản lý nhà nƣớc đƣợc đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nƣớc theo nghĩa rộng; quản lý nhà nƣớc bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tƣợng bị quản lý và vấn đề tƣ pháp đối với đối tƣợng quản lý cần thiết của Nhà nƣớc.
Hoạt động quản lý nhà nƣớc chủ yếu và trƣớc hết đƣợc thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nƣớc, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu đƣợc nhà nƣớc uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nƣớc theo quy định của pháp luật. - Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị, điều đó không phải do ý muốn chủ quan, mà xuất phát từ yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, xuất phát từ tính chất và mục tiêu của thể chế chính trị của nƣớc ta. Hệ thống chính trị này bao gồm: Đảng, Nhà nƣớc, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, với phƣơng thức Đảng lãnh đạo, Nhà nƣớc quản lý và nhân dân làm chủ. Tuy vai trò, vị trí, chức năng, phƣơng thức hoạt động khác nhau, nhƣng toàn bộ hệ thống chính trị đều thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nhằm mục đích chung là Tổ quốc độc lập, thống nhất, tự do và dân chủ cho nhân dân, công bằng và hạnh phúc cho mọi ngƣời, hòa bình hữu nghị cho các dân tộc.
- Việc xác định Mặt trận Tổ quốc là tổ chức liên minh chính trị đã phản ánh đƣợc bản chất của Mặt trận, đồng thời cũng chỉ rõ vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có tính quần chúng rộng rãi, tự nguyện, là hình thức tổ chức có tính toàn dân, gồm các đoàn thể nhân dân, là chính nhân dân liên hiệp lại. Do đặc điểm này mà Mặt trận có những điều kiện để phối hợp với Nhà nƣớc tập hợp, vận động đông đảo các tầng lớp nhân dân, tạo thành sức mạnh to lớn, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền. 16 - Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.
Mặt trận giới thiệu những ngƣời có đủ tiêu chuẩn và điều kiện để nhân dân bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; vận động nhân dân tham gia xây dựng pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nƣớc, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức Nhà nƣớc. - Theo quan điểm của Đảng ta, cải cách bộ máy Nhà nƣớc còn bao hàm một nội dung quan trọng là tăng cƣờng sự tham gia xây dựng, quản lý, giám sát và bảo vệ Nhà nƣớc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nhà nƣớc dựa vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để phát huy quyền làm chủ và sức mạnh có tổ chức của nhân dân. Đó cũng chính là sức mạnh của bản thân Nhà nƣớc.
Trong quá trình ra quyết định và quản lý, điều hành, Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp cần lắng nghe những kiến nghị của Mặt trận và các đoàn thể.